Dân Luận

không gian mở bày tỏ quan điểm công dân

Hoàng Xuân Phú – Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?

Lẽ ra ta không cần phải tốn quá nhiều thời gian để bàn luận về quốc hiệu, bởi đó là một chuyện đơn giản. Không gì đơn giản hơn việc chọn một tên thật… đơn giản và mộc mạc, để dễ được đa số Nhân dân chấp nhận, và bền vững với thời gian. Vấn đề chỉ trở nên rắc rối khi muốn dùng quốc hiệu để trang điểm, hay cố gói ghém vào đó thiên hướng chính trị, và trở thành phức tạp hơn vì phải né tránh những tì vết của lịch sử. Khi đã lâm vào trạng thái rắc rối và phức tạp, thì gỡ ra cũng không dễ. Mục đích của bài viết này là chia sẻ mấy ý kiến, nhằm góp phần lựa chọn một quốc hiệu hợp lý.

1. Tiêu chí cho quốc hiệu

Để nội dung thảo luận không quá tản mạn, xin đề xuất bốn tiêu chí, mà quốc hiệu cần thỏa mãn.

Tiêu chí 1: Quốc hiệu không được chứa đựng những khái niệm trái ngược với thực trạng của Đất nước. Yêu cầu tưởng chừng hiển nhiên này thường bị vi phạm, khi người ta muốn dùng quốc hiệu để trang điểm cho chế độ. Chọn tên thế nào cho hay là một chuyện thường tình, nhưng khi tên hay đến mức… trái ngược hẳn với thực trạng thì lại trở thành trớ trêu. Cũng giống như việc bố mẹ đặt tên con là “Thiên Tài” hay “Hoa Hậu”, trong khi đứa trẻ lại không may bị thiểu năng trí tuệ, hay bị dị tật giữa mặt, thì cái tên quá hay kia chỉ khiến nó càng hay bị người đời châm chọc mà thôi. Hai mĩ từ được ưa dùng để đưa vào tên nước là “Dân chủ”“Nhân dân”. Oái oăm thay, ở những quốc gia mà dân chủ đã trở thành hiển nhiên và Nhà nước thực sự là “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, thì hai từ “Dân chủ”“Nhân dân” không xuất hiện trong quốc hiệu – Điều đó cũng chẳng cần thiết vì “hữu xạ tự nhiên hương”. Ngược lại, ở nhiều quốc gia mà tính từ “Dân chủ” hay danh từ “Nhân dân” được gán vào quốc hiệu, thì dân chủ hay bị chà đạp và Nhân dân hay bị coi thường, mà một trong những ví dụ điển hình là chế độ diệt chủng mang tên Camphuchia Dân chủ của Khmer Đỏ. Những mĩ từ kiểu ấy không lừa được ai, không thể ngụy trang để che lấp thực tế phũ phàng. Chúng không chỉ gây cảm giác mỉa mai, mà còn làm cho người dân cảm thấy bị xúc phạm, như thể bị nhà cầm quyền coi thường và thách thức. Đưa vào tên nước những giá trị không tồn tại trên thực tế là giả dối. Khi giả dối tràn lan đến mức phơi ra cả tên nước, thì đạo đức càng dễ lụn bại, giáo dục càng dễ suy đồi, và Đất nước càng khó phát triển lành mạnh.

Tiêu chí 2: Quốc hiệu không được gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân. Tiêu chuẩn này rõ ràng đến mức không cần phải giải thích thêm. Chỉ xin nhấn mạnh rằng: Để sớm đạt được mục tiêu Dân giàu, Nước mạnh, thì phải thực tâm đoàn kết toàn Dân, nhằm huy động sức mạnh của toàn thể cộng đồng người Việt. Chính vì vậy, quốc hiệu không được gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

Tiêu chí 3: Quốc hiệu cần tránh gây phản cảm. Phản cảmkhông phải do nó chứa đựng những từ có nghĩa xấu, vì thông thường chỉ những khái niệm được coi là tốt đẹp mới được lựa chọn để đưa vào quốc hiệu. Thế nhưng, nếu khái niệm đẹp đẽ nào đó đã bị gắn với một giai đoạn lịch sử bi thương, thì nó gợi lại những kỷ niệm buồn. Mặc dù “Nhân dân” là một trong những danh từ được trân trọng nhất, nhưng người dân các nước Ba Lan, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri… chẳng muốn tiếp tục lưu giữ nó trong tên nước, sau khi đã xóa bỏ các chế độ mang tên Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, Cộng hòa Nhân dân Bun-ga-ri, Cộng hòa Nhân dân Hung-ga-ri… Mặc dù “Dân chủ” là một trong những tính từ đẹp nhất, nhưng người Camphuchia khó có thể chấp nhận để nó tái xuất hiện trong tên nước của họ, sau khi đã trải qua thảm họa diệt chủng dưới chế độ Khmer Đỏ man rợ mang tên Camphuchia Dân chủ. “Xã hội chủ nghĩa” vốn là một từ đẹp, thể hiện giấc mơ về một xã hội công bằng, nhưng trên thực tế thì nó lại bị bôi nhọ bởi các chế độ độc tài chuyên chế, và bị nhuốm máu của hàng chục triệu người đã chết oan ức dưới thời Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot… Trải qua những cơn ác mộng như vậy, các nạn nhân sẽ cảm thấy rùng mình khi phải nghe lại những mĩ từ đã từng bị lạm dụng để hóa trang cho tội ác. Vì vậy, cần tránh dùng những từ đã trở nên phản cảm để đặt tên nước.

Tiêu chí 4: Quốc hiệu cần được Nhân dân chấp thuận. Đất nước là của chung, chứ không phải của riêng ai. Vì vậy không ai có đặc quyền đơn phương quyết định tên nước. Hiển nhiên là khó có thể chọn được một cái tên để tất cả mọi người đều thích, nên không thể cầu toàn. Nhưng nếu chỉ đưa vào quốc hiệu những giá trị phổ cập, những khái niệm mang tính hiển nhiên, thì dễ được đa số Nhân dân chấp nhận (ít nhất là không phản đối). Ví dụ: Có thể coi “Cộng hòa” là một khái niệm mang tính hiển nhiên (vì đa số nhân dân Việt Nam không muốn trở lại chế độ quân chủ), nhưng “Xã hội chủ nghĩa” thì không thuộc vào phạm trù ấy. Có thể “Xã hội chủ nghĩa” là tình yêu chân thành của một số người, nhưng tên nước không phải là nơi để thể hiện tuyên ngôn tình yêu của họ. Không nhất thiết phải trưng ra mọi thứ mình yêu, bởi điều đó cũng ngộ nghĩnh như việc in lên danh thiếp danh sách tình nhân. Mặt khác, họ yêu gì thì cứ việc yêu, nhưng không thể ép toàn Dân phải cùng yêu thứ đó, bởi điều ấy cũng phi lý như việc họ ép tất cả mọi người phải cùng yêu vợ hay tình nhân của riêng họ vậy.

Thiết nghĩ, bốn tiêu chí kể trên là hợp lý, không hề quá cao, mà có thể coi là tiêu chuẩn tối thiểu đối với quốc hiệu. Sau đây, ta sẽ dựa vào chúng để đánh giá quốc hiệu hiện thời và đề xuất quốc hiệu thay thế.

2. Quốc hiệu hiện thời

Năm 1976 nước Việt Nam tái thống nhất, lấy quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ “Xã hội chủ nghĩa” được sao chép từ tên của một số quốc gia, như Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc… Điều đó không chỉ để phân biệt với ba quốc hiệu đã từng tồn tại trên đất Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòaCộng hòa Miền Nam Việt Nam, mà còn để thể hiện con đường do giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã chọn cho Dân tộc.

Có lẽ khi ấy không có nhiều người công khai phản đối sự lựa chọn này. “Bên thắng cuộc” thì tin tưởng vào sự sáng suốt của những người đã lãnh đạo thắng lợi hai cuộc chiến tranh chấn động địa cầu, và cuộc sống no đủ ở Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu (như đã được truyền tụng) là niềm mơ ước của hàng triệu người đã phải chịu đói khổ suốt mấy chục năm chiến tranh. “Bên thua cuộc” thì nghĩ mình buộc phải chấp nhận, chứ không được quyền tham gia lựa chọn.

Cuộc sống khắc nghiệt đằng đẵng những năm 80 của thế kỷ 20 khiến người người bừng tỉnh khỏi giấc mộng, và thảng thốt tự hỏi: Chẳng nhẽ “Xã hội chủ nghĩa” là thế này sao?

Rồi Liên Xô và hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu đồng loạt sụp đổ. Chính Nhân dân (của các nước đó) đã đứng lên xóa bỏ cái chế độ mà họ từng kỳ vọng, nhưng rồi quá thất vọng. Đối với hầu hết các nước trên Thế giới, cuộc thí nghiệm quy mô, tốn kém mồ hôi và xương máu có một không hai trong lịch sử nhân loại đã kết thúc. Mấy chế độ mang danh “Xã hội chủ nghĩa” còn sót lại bơ vơ với câu hỏi “đi đâu, về đâu”.

Thực tế phũ phàng có sức thuyết phục mạnh hơn mọi lý thuyết, khiến những người bảo thủ nhất trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam cũng phải nhận ra rằng lối thoát duy nhất là phải “đổi mới”, tức là phải dứt khỏi những ràng buộc lý luận quá giáo điều. Như người mới tập bơi, lúc đầu chỉ dám mon men cạnh con tàu đang chìm dần. Nhưng rồi chới với trong sóng nước, đành phải bám vào bất cứ vật nào trôi nổi trong tầm với, miễn là còn có thể lềnh bềnh trên mặt nước. Sau hơn hai mươi năm trôi dạt, giờ đây đã mất hút bóng tàu xưa, chỉ còn lại kẻ ngơ ngác kiếm tìm “định hướng”. Tuy điệp khúc “Xã hội chủ nghĩa” vẫn còn vang lên đâu đó, nhưng với lý lẽ vu vơ như trong cơn mê sảng. Nếu tỉnh táo tìm kiếm từ Bắc vô Nam, thì không thể tìm được bất cứ biểu hiện tích cực nào trong thực tế cuộc sống, để chứng tỏ rằng xã hội này cũng có những nét tốt hơn so với xã hội tư bản phát triển. Những giá trị tốt đẹp từng được gán cho “Xã hội chủ nghĩa” ngày càng vắng bóng, dần bị triệt tiêu. Thay vào đó, những biểu hiện vốn được coi là đặc trưng xấu của chế độ phong kiến và của chủ nghĩa tư bản hoang dã ngày càng lấn át: Tham nhũng lộng hành, bất công ngự trị, bóc lột trắng trợn, thất nghiệp tràn lan… Quốc hiệu hiện thời trở nên cô đơn giữa lòng Dân tộc, vì nó chứa đựng tính từ “Xã hội chủ nghĩa”,đã trở nên xa lạ và hoàn toàn trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vì vậy, theo Tiêu chí 1, đã đến lúc chúng ta phải chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để sống thật hơn với lòng mình. Nếu ai đó thực tâm yêu Chủ nghĩa xã hội với tư cách một lý tưởng tốt đẹp, thì lại càng phải đấu tranh đòi bỏ quốc hiệu hiện thời, bởi việc gắn tính từ “Xã hội chủ nghĩa” với tình trạng tệ hại hiện nay chỉ có tác dụng bôi nhọ Chủ nghĩa xã hội mà thôi.

Có ý kiến chỉ đạo rằng cần tiếp tục duy trì quốc hiệu hiện nay để “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu nào? Nếu là mục tiêu cuối cùng của ĐCSVN thì là tiến lên Cộng sản chủ nghĩa, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Cộng sản chủ nghĩa Việt Nam”? Nếu là mục tiêu trước mắt thì chỉ là “quá độ” hay “định hướng Xã hội chủ nghĩa”, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Quá độ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay “Cộng hòa Định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”? Thực ra, mục tiêu hiện nay của giới cầm quyền chỉ đơn thuần là duy trì chế độ độc đảng bằng mọi cách. Vậy thì, nếu muốn “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng”, tại sao không chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Độc đảng Việt Nam” cho trung thực? Đặt các câu hỏi như vậy để thấy rõ hơn sự ngụy biện, khi vin vào mục tiêu phấn đấu để duy trì quốc hiệu hiện thời.

Mục tiêu càng cao xa thì càng có thể sai, có thể nhầm. Nếu muốn thì cứ việc âm thầm mà theo đuổi, như người lính ra trận giữ bí mật mục tiêu. Tại sao cứ phải bô bô, nói thay làm, rồi gán cái mục tiêu đã lộ rõ là vô vọng vào cả tên nước, tạo cớ trói buộc quyền tìm tòi, lựa chọn và khả năng sáng tạo của Nhân dân, cản trở bước tiến của Dân tộc?

Chủ nghĩa xã hội chỉ là mục tiêu phấn đấu của ĐCSVN, nhưng lại được gán bừa cho nguyện vọng của Nhân dân. Đó là một sự xúc phạm, thể hiện tập quán coi thường Nhân dân. Khi cuộc thử sức đã ngã ngũ trên phạm vi Thế giới, mà vẫn dai dẳng bám lấy ảo vọng “Xã hội chủ nghĩa” được cóp nhặt từ con tàu đã chìm nghỉm mang tên Liên Xô, thì chẳng thể hiện được lòng trung thành, mà chỉ chứng tỏ sự trì trệ, bảo thủ và khả năng nhận thức thời cuộc quá kém cỏi. Điều đó chỉ khiến Dân thêm xa và càng coi thường giới lãnh đạo, ảnh hưởng xấu tới hiệu quả điều hành của chính quyền.

Giờ đây, bao người sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong chế độ này đã mất hẳn niềm tin vào Chủ nghĩa xã hội. Những người từng ở bên kia chiến tuyến và con em họ lại càng khó chia sẻ với lý tưởng “Xã hội chủ nghĩa”. Do đó, việc duy trì quốc hiệu hiện nay chỉ làm cho lòng người thêm li tán, gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

Khi “Xã hội chủ nghĩa” đã trở nên tai tiếng, cả Thế giới chỉ có hai nước Việt Nam và Sri Lanka còn giữ tính từ ấy trong quốc hiệu, thì sự kiên định duy trì quốc hiệu hiện thời chỉ làm cho Đất nước thêm cô đơn trên trường quốc tế, và chứng tỏ rằng chính quyền này thuộc loại “khó hội nhập”.

Trong thuyết minh về ý kiến đề nghị lấy lại tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo cáo của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013 viết rằng:

“Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới, góp phần phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước.”

Đánh giá như vậy, trong mối so sánh với phương án tiếp tục duy trì tên nước là “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, thì có nghĩa là thừa nhận rằng quốc hiệu hiện thời không có những tác dụng ấy. Vậy thì, chiểu theo Tiêu chí 2, còn chần chừ gì nữa mà không chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để “đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội”, để “thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới”, và để “phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước”?

Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa, khái niệm “Xã hội chủ nghĩa” đã vương phải cái dớp đại bại. Đối với người Việt, từ “Xã hội chủ nghĩa” hay hiện hữu trong ký ức về những sai lầm của cuộc cải tạo tư sản ở miền Nam, về những năm tháng bế tắc và túng quẫn trước thời kỳ “đổi mới”, và đặc biệt hằn sâu trong tâm khảm của bao người đã bị cầm tù không án, vì từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, và những người đã phải mạo hiểm cả mạng sống để vượt biên đi tìm kiếm tự do. Mấy chục năm qua, từ “Xã hội chủ nghĩa” đã bị lạm dụng, để tô vẽ và biện hộ cho chế độ phi dân chủ, bị tham nhũng lộng hành từ trên xuống dưới. “Xã hội chủ nghĩa” bị gán cho một nền kinh tế lâm cảnh “cha chung không ai khóc”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc… phung phí của cải của Nhân dân và dìm Đất nước ngập sâu trong nợ nần. “Xã hội chủ nghĩa” vang lên như một lời nói dối trơ trẽn đối với bao số phận bị vùi dập bất công, quanh năm lang thang vật nài công lý… Vậy là bốn chữ “Xã hội chủ nghĩa” không còn tạo ra được hưng phấn cho những tâm hồn đã một thời tràn trề hy vọng, mà trở nên phản cảm đối với hàng triệu trái tim. Thế thì, theo Tiêu chí 3, tại sao không tránh nhắc tới nó trong quốc hiệu cho đỡ đau lòng?

Với những điều đã được trình bày ở trên, có lẽ đa số Nhân dân sẽ không chấp thuận gắn bó mãi với quốc hiệu hiện thời, tức là nó không thỏa mãn Tiêu chí 4. Nếu nhà cầm quyền muốn chứng minh điều ngược lại, thì phải tiến hành trưng cầu dân ý một cách thật sự dân chủ, thông qua hình thức bỏ phiếu kín, để người dân dám bầy tỏ chính kiến của mình, thay vì ép buộc họ phải điền hai chữ “đồng ý”, hay làm ngơ trước thực tế rồi kết luận bừa như mấy chục năm qua. Trước khi trưng cầu dân ý, giới lãnh đạo và bộ máy lý luận hãy ngồi lại với nhau, thảo luận cho ra nhẽ, để xác định rõ thứ “Xã hội chủ nghĩa” mà họ theo đuổi thực ra là cái gì. Chắc hẳn nó không thể là thứ “Xã hội chủ nghĩa quốc gia” (National Socialism, Nationalsozialismus), cái lý tưởng của tổ chức phát xít mang tên “Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa quốc gia Đức” (Nationalsozialistischen Deutschen Arbeiterpartei, mà người Việt quen gọi tắt là “Đức Quốc Xã”), đã gây bao tội ác ngút trời trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Liệu thứ mà họ theo đuổi có phải là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” thuần túy lý thuyết của Marx và Engels, hay là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” đã được hiện thực hóa bởi trường phái Lenin và Stalin? Tại sao càng phát triển theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa” thì càng khác lạ so với nguyên mẫu? Xét cho cùng thì điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam có phù hợp với sản phẩm nhập ngoại ấy hay không? Cái gọi là “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx – Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” chẳng qua là cố “gọt chân cho vừa giày”. Sư phụ có “chân vừa giày” mà còn phải “treo giày”, giữa đường bỏ cuộc, vậy thì đệ tử “gọt chân” có thể tập tễnh được bao lâu? Khi không còn ai thí thân đi trước làm hoa tiêu, thì kẻ mò mẫm cô đơn biết lẫm chẫm về đâu? Lấy đâu ra cái quyền để bắt cả Dân tộc phải lẽo đẽo đi theo trong cuộc tìm kiếm vô định, mịt mù tương lai? Bằng nào các nhà lý luận của ĐCSVN chưa tìm được câu trả lời thuyết phục cho chính bản thân mình, thì không nên đem câu hỏi lựa chọn hay không con đường “Xã hội chủ nghĩa” để đặt ra cho muôn dân, những người vốn chỉ lo làm ăn kiếm sống, chứ chẳng quan tâm đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa khác.

Vậy là quốc hiệu hiện thời vi phạm cả bốn tiêu chí đã đặt ra trong Phần 1. Cho nên, tốt nhất là sớm đổi quốc hiệu “cho lành”.

3. Quốc hiệu đã qua

Vốn dĩ, trong cả hai phiên bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIIIDự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2 tháng 1 năm 2013, chỉ có một phương án duy nhất về tên nước, là tiếp tục duy trì quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ấy là thể hiện sự “kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và Nhà nước ta, tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XI.

Sau ba tháng lấy ý kiến Nhân dân, trong Báo cáo gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề xuất thêm phương án thứ hai cho quốc hiệu là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“. Đây là một động thái tích cực, không chỉ thể hiện thái độ tiếp thu ý kiến Nhân dân của những người tham gia viết Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mà còn chỉ ra rằng tên nước không phải là thứ bất di bất dịch, và mọi người đều có thể tham gia góp ý để thay đổi cho hợp lý.

Có dư luận cho rằng một trong những nơi đề nghị lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòaKiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, do nhóm 72 người ký ngày 19 tháng 1 năm 2013, nên thường được gọi tắt là Kiến nghị 72. Đó là một sự nhầm lẫn, bởi vì Kiến nghị 72 không hề đề cập đến tên nước! Có lẽ nhầm lẫn ấy bắt nguồn từ việc hiểu sai rằng Dự thảo Hiến pháp 2013 là một bộ phận của Kiến nghị 72. Thực ra, hai văn bản này hoàn toàn độc lập với nhau, và việc ký Kiến nghị 72 không có nghĩa là tán thành với nội dung của Dự thảo Hiến pháp 2013.*

Là một trong những người đầu tiên đặt bút ký tên vào Kiến nghị 72, bản thân tôi không ủng hộ phương án lấy quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù chia sẻ quan điểm cho rằng đó là một giải pháp khả thi để giới cầm quyền chấp nhận bỏ từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi quốc hiệu. Xét theo bốn tiêu chí đã trình bày ở Phần 1, lý do khiến tôi không tán thành lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là như sau:

Thứ nhất, hiện nay và cả trong thời gian tới xã hội này vẫn chưa có dân chủ, vì giới cầm quyền chưa sẵn sàng chấp nhận quyền dân chủ của Nhân dân, trong khi đa số người dân cũng chưa quen thực hiện và bảo vệ quyền dân chủ. Tức là phương án Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứa đựng yếu tố giả dối, trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vậy làvi phạm Tiêu chí 1. Vả lại, kể cả khi xã hội đã thực sự có dân chủ, thì cũng chẳng cần phải khoe khoang, mà nên chọn quốc hiệu khiêm tốn như các nước dân chủ hàng đầu Thế giới.

Thứ hai, nếu dùng tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòađể đặt cho nước Việt Nam thống nhất, thì hàng triệu người đã từng gắn bó với chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam sẽ cảm thấy mình không được tôn trọng. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc. Hơn nữa, nếu sử dụng tên trùng thì nước Việt Nam thống nhất có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả xấu của những ký kết hay cam kết ngoại giao mà lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành trong hoàn cảnh bị lệ thuộc thời chiến tranh. Như vậy, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, tức làvi phạm Tiêu chí 2.

Thứ ba, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gợi lại những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, mà cho đến nay các nạn nhân vẫn chưa được xin lỗi và bồi thường một cách thỏa đáng. Nó cũng gợi lại những đau thương và mất mát mà nhiều gia đình miền Nam đã từng phải hứng chịu trong cuộc chiến “nồi da nấu thịt”. Đối với những nạn nhân như vậy, quốc hiệu này đã trở nên phản cảm. Vậy làvi phạm Tiêu chí 3.

Thứ tư, vì những lý do kể trên, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khó có thể được đa số người dân chấp thuận. Vậy là có thể vi phạm cả Tiêu chí 4.

Khi đã phải tránh quốc hiệu một thời của quốc gia phía bắc, thì cũng khó mà chấp nhận quốc hiệu của quốc gia ở phía nam vĩ tuyến 17. Quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa tuy không vi phạm Tiêu chí 1 (vì không chứa từ nào trái ngược với thực trạng Đất nước), nhưng lại vi phạm Tiêu chí 2 (vì cũng gây bất lợi cho hòa hợp Dân tộc), Tiêu chí 3 (vì gây phản cảm với những nạn nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa) và Tiêu chí 4 (vì chắc nó không được giới cầm quyền và một bộ phận Nhân dân thuộc “bên thắng cuộc” chấp nhận). Vì vậy cũng không thể chọn Việt Nam Cộng hòa làm tên nước Việt Nam thống nhất.

Có ý kiến đề nghị lấy lại tên Đại Việt. Đó là quốc hiệu của nước ta hơn 700 năm, trong khi tên nước “Việt Nam” mới có từ năm 1804. Tuy nhiên, tên xưng “tự đại” đó có thể gây phản cảm trong quan hệ quốc tế, và việc chọn tên Đại Việt đầy tự hào giữa thời buổi khủng hoảng trầm trọng về chính trị, kinh tế và xã hội dễ gây ra cảm giác khôi hài trong cộng đồng người Việt. Nó cũng tạo thêm duyên cớ để bên “Đại Bá” lên án chúng ta là “Tiểu Bá”. Do đó, theo Tiêu chí 3, không nên lấy lại tên Đại Việt.

4. Quốc hiệu thay thế

Trong hai phần trên, ta đã đi đến kết luận là không nên dùng lại mấy quốc hiệu đã hoặc đang được sử dụng ở nước ta. Vậy thì chọn quốc hiệu nào? Hãy cùng nhau tham khảo danh sách tên (tiếng Anh) của các quốc gia trên Thế giới để tìm lời gợi ý.

Trong số 206 nhà nước có chủ quyền được thống kê, thì có 153 nước (chiếm 74%) đưa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc” (Kingdom) vào quốc hiệu. Trong số 136 quốc hiệu có danh từ “Cộng hòa”, thì 107 (chiếm 79%) chỉ kèm thêm địa danh, ví dụ như Cộng hòa Áo, Cộng hòa Ấn Độ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Italia. Nếu noi theo đa số này, ta có thể chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Việt Nam”. Phương án này ngắn gọn, giản dị, hòa nhập và không chứa khái niệm nào trái với thực trạng đất nước (tức là thỏa mãn Tiêu chí 1). Nhưng phải chăng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược của quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa? Băn khoăn này được củng cố khi dịch “Cộng hòa Việt Nam” ra các ngoại ngữ thông dụng, chẳng hạn như tiếng Anh hay tiếng Đức, và thu được Republic of Vietnam hay Republik Vietnam – đó chính là quốc hiệu (tiếng Anh hay tiếng Đức) của Việt Nam Cộng hòa. Nếu quả như vậy thì không nên chọn quốc hiệu “Cộng hòa Việt Nam”, vì những lý do như đã trình bày ở Phần 3 đối với quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, có thể tránh yếu tố nhạy cảm do lịch sử để lại, nếu phân biệt giữa danh từ và tính từ. Trong số 107 quốc hiệu được tạo bởi danh từ “Cộng hòa” đi kèm với địa danh, thì 94 trường hợp (chiếm 88%) có địa danh xuất hiện với tư cách danh từ, ví dụ như Republic of Austria (Cộng hòa Áo), Republic of India (Cộng hòa Ấn Độ), và 13 trường hợp (chiếm 12%) có địa danh xuất hiện với tư cách tính từ, ví dụ như Argentine Republic (Cộng hòa Argentina), Czech Republic (Cộng hòa Séc), French Republic (Cộng hòa Pháp), Hellenic Republic (Cộng hòa Hy Lạp), Italian Republic (Cộng hòa Italia), Portuguese Republic (Cộng hòa Bồ Đào Nha). Như vậy, nếu coi “Việt Nam” là danh từ, thì tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” mới là Republic of Vietnam. Còn nếu coi “Việt Nam” là tính từ (thuộc về Việt Nam), thì tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” sẽ là “Vietnamese Republic”, không còn bị trùng với Republic of Vietnam, và đây là một phương án có thể chấp nhận được.

Nếu không hài lòng với phương án vừa rồi, mà vẫn muốn ghép danh từ “Cộng hòa” với danh từ “Việt Nam”, thì phải bổ sung thêm vào đó một vài từ. Tất nhiên, không thể thêm những từ không phù hợp với hoàn cảnh của nước ta, như “Federal” (thuộc về liên bang), hay “Islamic” (thuộc về Islam), và cần chừa ra tính từ “Socialist” (Xã hội chủ nghĩa) mà ta đã xác định là nên chia tay với nó. Vậy thì, trong kho từ vựng của 206 quốc hiệu đang được sử dụng, chỉ còn lại danh từ “People” (Nhân dân) và hai tính từ “Democratic” (Dân chủ), “United” (Thống nhất, Liên hiệp, Hợp nhất…) là thích hợp.

Nếu gia nhập cái gia đình gồm 5 quốc hiệu chứa danh từ “People” (Nhân dân), bao gồm Algérie, Bangladesh, Lào, Triều TiênTrung Quốc, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” (People’s Republic of Vietnam). Phương án này vi phạm Tiêu chí 1, vì Nhà nước này quá xa Nhân dân, chưa phải là “của Nhân dân”, nên nếu nói “Cộng hòa (của) Nhân dân” (People’s Republic) là trái với thực trạng Đất nước. Nó cũng vi phạm Tiêu chí 3, vì bằng nào Nhân dân ta còn bị ức chế triền miên bởi cách cư xử của láng giềng phương bắc, thì bằng ấy tên gọi “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” còn gây phản cảm. Thậm chí, có thể nhiều người sẽ coi việc lựa chọn quốc hiệu này như một biểu hiện của sự theo đuôi ngoại bang để gây phương hại cho lợi ích của Dân tộc.

Nếu gia nhập cái quần thể của 10 quốc hiệu chứa tính từ “Democratic” (Dân chủ), bao gồm Algérie, Cộng hòa Dân chủ Congo, Đông Timor, Ethiopia, Lào, Nepal, São Tomé và Príncipe, Cộng hòa Dân chủ Sahrawi Ả Rập, Sri LankaTriều Tiên, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam”. Khi “Việt Nam” là danh từ, thì “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” chỉ là cách viết giao hoán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nếu dịch ra tiếng Anh, thì kết quả của hai cách viết hoàn toàn trùng nhau: Democratic Republic of Vietnam. Kể cả khi coi “Việt Nam” là tính từ, để có tên tiếng Anh khác đi là “Vietnamese Democratic Republic”, thì phương án biến báo này vẫn vi phạm Tiêu chí 1, bởi vì trong thời gian tới xã hội ta vẫn chưa có dân chủ, nên từ “Dân chủ” trái với thực trạng của Đất nước.

Ở trên, tôi đã cố ý chép ra đầy đủ danh sách của 5 quốc gia có danh từ “Nhân dân” và 10 quốc gia có tính từ “Dân chủ” trong quốc hiệu. Tại sao? Để bạn đọc có thể dễ dàng kiểm nghiệm điều đã được viết trong Phần 1: Những quốc gia mẫu mực về dân chủ và Nhà nước thực sự là của Nhân dân thì trong quốc hiệu không có hai từ “Dân chủ” và “Nhân dân”. Ngược lại, ở nhiều quốc gia mà tính từ “Dân chủ” hay danh từ “Nhân dân” được gán vào quốc hiệu, thì dân chủ hay bị chà đạp và Nhân dân hay bị coi thường. Nếu đã ngộ ra điều đó, thì chắc không mấy ai còn cảm thấy tự hào khi thấy hai từ “Dân chủ”“Nhân dân” xuất hiện trong quốc hiệu của nước mình.

Có 5 quốc hiệu chứa tính từ “United”, đó là: United Arab Emirates (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất), United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), United Mexican States (Liên bang Mexico), United Republic of Tanzania (Cộng hòa Thống nhất Tanzania) và United States of America (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Nếu gia nhập gia đình này, hẳn ta sẽ không phải thấy xấu hổ vì các quốc gia “cùng hội cùng thuyền”. Lúc đó, quốc hiệu tiếng Anh của ta sẽ là “United Republic of Vietnam”, và quốc hiệu tiếng Việt sẽ là “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”. Rõ ràng là phương án này thỏa mãn Tiêu chí 1, vì Đất nước đã thống nhất. Nó thỏa mãn Tiêu chí 2, vì không gây ảnh hưởng bất lợi cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân. Nó cũng thỏa mãn cả Tiêu chí 3, vì nó không chứa yếu tố nào gây phản cảm. Vì vậy, có thể hy vọng rằng nó sẽ được Nhân dân chấp thuận, tức là thỏa mãn Tiêu chí 4. Có thể bây giờ một số người không thích quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”, nhưng nếu nó được chọn ngay sau khi thống nhất Đất nước vào năm 1976 thì có lẽ đã được đa số Nhân dân tán thành, và bây giờ cũng không cần phải bàn chuyện thay đổi tên nước.

Để xét hết mọi trường hợp, cần nhắc tới tính từ “Co-operative” (Hợp tác) được ghép với danh từ “Republic” (Cộng hòa), đó là trường hợp của Co-operative Republic of Guyana (Cộng hoà Hợp tác Guyana). Phương án này cũng tương tự như tính từ “United”, nhưng không hay bằng.

Bây giờ ta xét đến các trường hợp quốc hiệu không chứa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc” (Kingdom). Trong số này, nhóm đông đảo nhất là 25 quốc gia có quốc hiệu chỉ bao gồm địa danh, không kèm theo danh từ hay tính từ nào nữa (chiếm 12% của 206 quốc gia được thống kê). Mấy nước tiêu biểu thuộc nhóm này là Canada, Hungary, Japan (Nhật Bản), MalaysiaUkraine (Ukraina). Hiển nhiên, ta cũng có thể chọn phương án đơn giản như vậy, nghĩa là chọn quốc hiệu “Việt Nam”. Rõ ràng là quốc hiệu này thỏa mãn cả bốn tiêu chí được đề ra ở Phần 1.

Có 14 quốc hiệu chứa danh từ “State” (Nhà nước). Trong đó, có 3 trường hợp chữ “States” (được dùng ở dạng số nhiều) đi với tính từ “United” hay “Federated”, để tạo thành nghĩa “Liên bang” hay “Hợp chúng quốc”. Trong các trường hợp còn lại, chữ “State” (được dùng ở dạng số ít) thể hiện nghĩa “Nhà nước”, ví dụ như State of Israel (Nhà nước Do Thái), State of Kuwait (Nhà nước Kuwait)State of Libya (Nhà nước Libya). Theo cách này, ta có thể đặt quốc hiệu là “Nhà nước Việt Nam” (State of Vietnam). Tiếc rằng, ở nước ta giới cầm quyền đã quen với quan niệm cho rằng ĐCSVN đứng trên tất thảy, trên cả Tổ quốc và Nhân dân, và coi Nhà nước này thuộc về ĐCSVN, là cấp dưới của ĐCSVN. Cho nên, nếu chọn quốc hiệu – với tư cách là tên của Nước – là “Nhà nước Việt Nam”, thì họ dễ đồng nghĩa “Nước Việt Nam” với “Nhà nước Việt Nam”, và vì thế coi “Nước Việt Nam” cũng là của ĐCSVN… Ngộ nhận kiểu ấy sẽ gia tăng mức độ lộng quyền, chắc chắn không có lợi cho Dân tộc, cho Nhân dân. Nghĩa là phương án này không phù hợp với Tiêu chí 2.

Có hai quốc hiệu dùng tính từ “Độc lập” (Independent) phối hợp với danh từ “Nhà nước” (State), đó là Nhà nước Độc lập Papua New Guinea” (Independent State of Papua New Guinea)Nhà nước Độc lập Samoa” (Independent State of Samoa). Mặc dù ta đã xác định là không nên đưa danh từ “Nhà nước” vào quốc hiệu nước nhà, nhưng vẫn nẩy sinh câu hỏi là: Có nên phối hợp tính từ “Độc lập” (Independent) với danh từ “Cộng hòa” (Republic) để tạo ra quốc hiệu “Cộng hòa Độc lập Việt Nam” (Independent Republic of Vietnam) hay không? Câu trả lời là không! Một mặt, việc đưa tính từ “Độc lập” vào quốc hiệu thể hiện sự tự ti hơn là tự tin. Mặt khác, sự nhún nhường của giới lãnh đạo trước những hành động lấn át triền miên của nhà cầm quyền Trung Quốc khiến dư luận hay phải đặt câu hỏi về tính độc lập của Nhà nước Việt Nam. Cho nên, tính từ “Độc lập” có thể trở thành phản cảm, tức là vi phạm Tiêu chí 3.

Như vậy, ta đã rà xét hết danh sách 206 quốc hiệu đang được sử dụng và lọc ra được ba phương án cho quốc hiệu nước nhà. Tất nhiên, có thể dùng cả một số danh từ và tính từ không xuất hiện trong 206 quốc hiệu đã xét để tạo thêm những phương án mới. Nhưng điều đó là không cần thiết và cũng không nên, bởi từ nào mà các chính trị gia của 206 nước trên Thế giới không lựa chọn thì ta cũng không nên dùng. Không nên đem cả quốc hiệu ra làm thí nghiệm, vì Dân ta đã quá khổ vì các cuộc thí nghiệm rồi.

*

* *

Tóm lại, theo tôi thì quốc hiệu cần thỏa mãn bốn tiêu chuẩn tối thiểu sau đây:

- Tiêu chí 1: Quốc hiệu không được chứa đựng những khái niệm trái ngược với thực trạng của Đất nước.

- Tiêu chí 2: Quốc hiệu không được gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, đặc biệt là không được gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

- Tiêu chí 3: Quốc hiệu cần tránh gây phản cảm.

- Tiêu chí 4: Quốc hiệu cần được Nhân dân chấp thuận.

Khi đã tán thành như vậy, thì hai hệ quả tất yếu là:

- Cần sớm chia tay với quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam“.

- Không lấy lại các quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòaĐại Việt.

Dựa trên vốn từ và các cấu trúc ngữ pháp được sử dụng trong 206 quốc hiệu trên Thế giới, ta chỉ chọn được ba phương án quốc hiệu sau đây phù hợp với ba tiêu chí đầu và có thể thỏa mãn cả Tiêu chí 4:

- Phương án 1: Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam).

- Phương án 2: Cộng hòa Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnamese Republic).

- Phương án 3: Cộng hòa Thống nhất Việt Nam (tên tiếng Anh: United Republic of Vietnam).

Phương án 1 chỉ sử dụng địa danh “Việt Nam” làm quốc hiệu, giống như 25 nước khác (chiếm 12% quốc hiệu trên Thế giới). Phương án này ngắn gọn, giản dị và dễ được mọi người chấp nhận, vì nó không chứa bất cứ yếu tố nào khiến người ta phải tranh luận hay phản đối.

Phương án 2 chỉ ghép danh từ “Cộng hòa” (Republic) với địa danh “Việt Nam” để tạo ra quốc hiệu, giống như 107 nước khác (chiếm 52% quốc hiệu trên Thế giới). Để tránh ấn tượng cho rằng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược của Việt Nam Cộng hòa, cần xác định rằng hai quốc hiệu này khác nhau cả về thứ tự sắp xếp từ và cả về ngữ pháp: Từ “Việt Nam” trong “Cộng hòa Việt Nam” là tính từ, trong khi từ “Việt Nam” trong Việt Nam Cộng hòa là danh từ. Do đó, tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam”“Vietnamese Republic”, trong khi tên tiếng Anh của Việt Nam Cộng hòaRepublic of Vietnam. Cách vận dụng ngữ pháp như vậy không phải là bất thường, vì trong số 107 quốc hiệu được ghép bởi danh từ “Cộng hòa” và địa danh, có 13 trường hợp mà địa danh là tính từ (giống như “Vietnamese”).

Phương án 3 sử dụng tính từ “Thống nhất” để tạo ra một quốc hiệu có chứa hai danh từ “Cộng hòa”“Việt Nam”, nhưng không trùng với hai quốc hiệu đã tồn tại ở hai miền Tổ quốc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa. Tính từ “Thống nhất” không trái ngược với thực trạng, vì nước ta đã thống nhất. Tiếc rằng, đó mới chỉ là thống nhất theo nghĩa thông thường, tạm gọi là thống nhất về mặt vật chất, vì non sông tuy đã liền một dải, chịu sự quản lý của cùng một chính quyền, nhưng lòng người vẫn chia lìa trăm mối. Quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam” có thể là một lời nhắc nhở, thúc giục mọi người nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu hòa giải và hòa hợp Dân tộc, để sớm thống nhất Tổ quốc cả về mặt tinh thần.

Vậy thì nên lựa chọn quốc hiệu nào để thay thế quốc hiệu hiện thời? Mỗi người đều có thể đề xuất và trao đổi ý kiến của mình. Nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về tập thể Nhân dân, thông qua biểu quyết dân chủ, để đảm bảo rằng quốc hiệu thực sự được Nhân dân chấp thuận (Tiêu chí 4). Khi đã khẳng định rằng Nhà nước này là của Nhân dân, thì không ai, không một nhóm người nào có quyền đơn phương quyết định thay cho Nhân dân.

Hy vọng rằng những lý lẽ và tư liệu được trình bày trong bài viết này sẽ có ích cho mọi người trong quá trình tham gia thảo luận và lựa chọn cho nước nhà một quốc hiệu hợp lý, đáp ứng yêu cầu tối thiểu là: Quốc hiệu phải hội tụ lòng Dân!

Hà Nội, ngày 05-17/05/2013

H. X. P.

Chú thích

* Phần cuối của Kiến nghị 72 viết:

“Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia.”

Để minh họa cho ý “khuyến khích đề xuất các dự thảo khác”, Kiến nghị 72 có thêm chú thích như sau:

“Theo tinh thần đó, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo và thảo luận.”

Nghĩa là Dự thảo Hiến pháp 2013 được gửi kèm “như một tài liệu để tham khảo và thảo luận”, chứ nó không phải là một bộ phận cấu thành của Kiến nghị 72.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Chủ tịch UB Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đề xuất luật mới nhằm nêu bật tình trạng vi phạm nhân quyền của Việt Nam

Thúc đẩy việc đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt”

111-195x300.jpgChủ tịch Ed Royce

Washington, D.C. 17.5.2013 – Hạ nghị sỹ Ed Royce (Đảng Cộng hoà – tiểu bang California), Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện, đã giới thiệu H.Res. 218, dự luật kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì sự vi phạm quyền tự do tôn giáo trắng trợn của họ.

Chủ tịch Royce phát biểu: “Thật không may, tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng. Như tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch đã nêu trong bản phúc trình về tình hình các quốc gia năm 2013, Việt Nam gần như đàn áp mọi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tôn giáo. Trên thực tế, Việt Nam đã thụt lùi về nhân quyền.”

Trong báo cáo gần đây nhất, Uỷ ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế đã khuyến nghị việc đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt”, nhận ra rằng: “Thành tích nhân quyền nói chung của Việt Nam vẫn nghèo nàn, và đã xấu đi.”

Chủ tịch Royce phát biểu: “Việt Nam hiện nay không có tự do tôn giáo. Thay vì thế, chúng ta nhìn thấy những màn đánh đập bằng gậy và roi điện của cảnh sát, của côn đồ thuê mướn, và của an ninh tôn giáo. Chúng ta nhìn thấy sự từ chối thừa nhận hơn 600 nhà thờ Tin Lành của người Hmong, điều đã dẫn đến những sách nhiễu, bắt bớ và phá hoại nhà cửa. Và chúng ta nhìn thấy việc bỏ tù 355 giáo hữu Tin Lành người Thượng vì họ đã tiến hành các cuộc biểu tình ôn hoà để đòi hỏi quyền lợi đất đai và quyền tự do tôn giáo ở Tây Nguyên.

“Chỉ trong sáu tuần đầu tiên của năm 2013, ít nhất 40 nhà bất đồng chính kiến đã bị kết án trong những phiên toà trá hình. Điều đó có nghĩa là chỉ trong vòng hai tháng, nhà cầm quyền cộng sản đã vượt qua ‘thành tích’ của cả năm 2012. Và bất chấp hành động đó, Việt Nam vẫn đang tích cực theo đuổi một ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

“Đã đến lúc cần phải phơi bày những hành vi lạm dụng nhân quyền như thế. Nếu chúng ta tiếp tục phớt lờ chính sách đàn áp kinh khủng của Hà Nội, chúng ta đã góp thêm nhiều đau khổ cho nhân dân Việt Nam.”

Lưu ý: Chủ tịch Royce chính là nhà đồng bảo trợ hàng đầu cho Dự luật Nhân quyền Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là đồng chủ toạ danh dự của Nhóm Hoạt động Việt Nam tại Quốc hội Mỹ (Congressional Vietnam Caucus).

Nguồn: House Committee on Foreign Affairs

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Đông A – Nhân dân lên giá?!!

Trong kiến nghị sửa đổi Hiến pháp của Chính phủ có đề xuất: “Thủ tướng và các thành viên Chính phủ có trách nhiệm báo cáo công tác của mình trước nhân dân“. Từ đề xuất như vậy có người đã vội cho rằng đó là quan điểm mang tính cấp tiến, có khuynh hướng theo hướng tam quyền phân lập, một điểm son của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trái với những quan điểm như vậy, tôi cho rằng đề xuất như vậy vừa mị dân lố bịch, vừa ngớ ngẩn, thể hiện không có một tí hàm lượng chất xám nào trong đó.

Đề xuất như vậy mang tính mị dân bởi vì nó muốn phỉnh phờ để nhân dân cứ tưởng rằng mình làm chủ. Xem cung cách Thủ tướng hay Tổng Bí thư tiếp xúc với cử tri vừa mới đây thôi thì nhân dân là ai rất rõ ràng, và đại bộ phận dân chúng dường như không phải là nhân dân. Có bao nhiêu nhân dân từng được nghe Thủ tướng báo cáo công việc của mình? Đề xuất như vậy mang tính lố bịch vì Chính phủ báo cáo công tác của mình trước nhân dân như thế nào? Lên truyền hình đọc báo cáo là xong trách nhiệm? Nhân dân làm thế nào để bình chuẩn công tác của Chính phủ? Đề xuất như vậy mang tính ngớ ngẩn, bởi vì không một Chính phủ nào có thể báo cáo công tác của mình trước nhân dân. Họ chỉ có thể báo cáo công tác của mình trước đại diện của nhân dân, tức là trước Quốc hội. Hơn nữa, cái ngớ ngẩn còn nằm ở chỗ Chính phủ Việt Nam không phải do nhân dân bầu trực tiếp, mà là do nhân dân bầu gián tiếp thông qua các đại diện của mình tức là thông qua Quốc hội. Nhân dân không bầu trực tiếp Chính phủ thì hà cớ gì Chính phủ phải báo cáo trước nhân dân? Nhân dân bầu gián tiếp Chính phủ nên Chính phủ chỉ phải báo cáo gián tiếp trước nhân dân, tức là báo cáo trước Quốc hội.

Dường như gần đây nhân dân Việt Nam được lên giá. Kha khá nhiều người phát biểu lấy nhân dân làm chủ thể. Có những người về hưu giờ đây kể những câu chuyện rằng thì là hồi tại chức mình chưa bao giờ làm dân đổ máu. Không lẽ làm dân không đổ máu là chính tích của một sự nghiệp chính trị, trong khi phục vụ nhân dân mới thực sự là một chính tích, và không đổ máu là lẽ đương nhiên? Chằng bù mấy năm trước báo Quân đội nhân dân còn ra rả ai mới là nhân dân, đừng có tưởng bở nghiễm nhiên là nhân dân. Ôi nhân dân, đừng có thấy mấy chữ “nhân dân” mà hoa mắt lầm tưởng những thủ đoạn lấy nhân dân làm chiêu bài chính trị là vì nhân dân. Điểm dễ thấy nhất để tách chuyện vừa đá bóng vừa thổi còi là thành viên Chính phủ không được là đại biểu Quốc hội thì chẳng thấy Chính phủ đề xuất, mà cứ lôi nhân dân ra như thế thì mệt cho nhân dân lắm.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Đào Tiến Thi – Một bài báo có hại cho Đảng CSVN

Báo Hà Nội Mới online ngày thứ năm, 16-5-2013, có bài Không thể “khoác áo” dân chủ để kích động, gây rối của một tác giả lấy tên là Trí Dũng, đã tấn công trực tiếp vào nhóm Kiến ghị 72 và nhóm Công dân tự do. Trong bài này xin chỉ bàn về nhóm Kiến nghị 72.

1. Một cách viết non yếu

Không kể cách hành văn lòng thòng, tối nghĩa, ghép nhặt các khẩu hiệu thì bài báo đã phạm 3 lỗi đáng kể dưới đây:

1.1. Ngay trong phần đầu của bài, tác giả đã đưa ra một lô tội của các nhân sỹ, trí thức mà rồi bỏ lửng, không phân tích, không chứng minh. Đó là một lối làm văn cẩu thả, một lối phát ngôn vô trách nhiệm. Chúng tôi sẽ trở lại ở phần 3 của bài.

1.2. Lẽ ra chữ “dân chủ” của tên bài nói trên phải để trong “nháy nháy” (để chỉ dân chủ giả hiệu, dân chủ khoác áo) thì tác giả lại đặt chữ “khoác áo” trong dấu nháy cho nên người đọc thấy hai chữ “khoác áo” trở nên buồn cười:

– Hoặc là nó trở nên vô nghĩa (vì dùng sai dụng ý đích thực của người viết);

– Hoặc cứ theo đúng chức năng của dấu nháy trong trường hợp này thì phải hiểu từ ngữ theo một nghĩa khác (thông thường là nghĩa ngược lại). Ví dụ, chữ “phấn đấu” sau đây: “Đời sống nhân dân khá hơn xưa, cán bộ ta ăn ở cũng khá hơn xưa, đi công tác có xe đạp, có ô tô nữa. Nhưng có một số người không nhớ lúc hàn vi, lại để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở. Đã có xe rồi lại “phấn đấu” để có xe đẹp hơn, chiếm mất phần của người khác. Đã có nhà ở rồi, lại “phấn đấu” theo kiểu như thế để có nhà đẹp hơn” (Hồ Chí Minh[1]). Rõ ràng khi đặt trong dấu nháy, chữ “phấn đấu” đâu còn nghĩa là “phấn đấu” nữa, mà đã mang nghĩa “tham lam”, “vơ vét”.

1.3. Cũng trong phần đầu của bài, tác giả xác định đối tượng mình đả kích là “các thế lực thù địch”, tức là một thế lực vô hình, không tên tuổi, không hình dong, nhưng cuối bài lại chỉ đích danh là nhóm Kiến nghị 72 (72 nhân sỹ, trí thức khởi xướng và ký đợt 1 vào Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp) và nhóm thảo ra Tuyên bố công dân tự do. Tác giả viết: “Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng “Tuyên bố của công dân tự do” hay “nhóm kiến nghị 72” và những kẻ đang rêu rao dân chủ, nhân quyền thực chất là họ đang đánh tráo khái niệm dân chủ và ngụy tạo dân chủ”.

Xác định đối tượng một cách tiền hậu bất nhất như thế có phải vì non kém trong nghiệp viết lách? Có thể. Nhưng cũng có thể do một đầu óc đã mụ mẫm vì định kiến, cứ ai khác mình tức là “thế lực thù địch” cả. Ban đầu, tác giả hãy còn tỉnh, nghĩ thế nhưng biết tránh, không gọi tên cụ thể; về sau quên, nói toẹt ra. Khi đã nói toẹt ra thì sự lố bịch cũng hết đường che giấu. Bởi vì “thế lực thù địch” lúc này là những con người cụ thể, rất cụ thể bằng xương bằng thịt, đang sống hiền lành trong chế độ này, chưa bao giờ làm “địch” cả. Trong số 72 nhân sỹ, trí thức nói trên, nhiều người từng là quan chức nhà nước như TS. Nguyễn Đình Lộc, nguyên bộ trưởng Bộ Tư pháp; GS. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường; Ông Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội; GS. Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, Ông Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế,… Có người từng nổi tiếng trên lĩnh vực hoạt động của mình như GS. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học; GS. Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. Có nhiều người là những nhà khoa học, nhà văn có uy tín trong giới và trong độc giả như GS. Nguyễn Huệ Chi, GS. Hoàng Tụy, GS. Trần Đình Sử, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Việt Phương, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên (hiện đang là chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội),… Trong số 72 nhân sỹ, trí thức còn có nhiều vị từng hoạt động trong phong trào sinh viên yêu nước trước 1975, từng bị tù đày trong chế độ cũ như các ông Cao Lập, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Hồ ngọc Nhuận, Huỳnh Kim Báu,… Loại đứng “cuối bảng” như tôi – Đào Tiến Thi, như Nguyễn Xuân Diện,… thì cũng là những công chức lương thiện, vốn chỉ biết “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, chưa hề biết mặt mũi “thế lực thù địch” nó thế nào, dù cũng đã nhiều lần yêu cầu các anh an ninh chỉ ra cho vài tên “thù địch” để tránh nhưng chính họ cũng chịu.

Trong số 72 nhân sỹ, trí thức nói trên, cũng chưa có ai “tự cho mình là “nhà dân chủ, đấu tranh đòi nhân quyền” như ông Trí Dũng gán ghép. Lại càng chả có ai dại gì “đánh bóng tên tuổi” (nhiều người trước đó đã có tên tuổi rồi) bằng cách nói trái “lề Đảng” để bị treo lơ lửng cái án tù hoặc chí ít cũng bị quấy nhiễu, gây khó dễ đủ điều trong cuộc sống (cái này thì ai cũng từng bị). Trong cảnh bát nháo này, thiếu gì những cách đánh bóng tên tuổi an toàn nếu muốn, tội gì “đánh bóng” bằng cách nguy hiểm này.

2. Một người nhận thức mù mờ về dân chủ lại đi lên lớp về dân chủ

Tác giả đặt vấn đề: “Nói tới dân chủ, trước hết cần đề cập đến những khái niệm cơ bản nhất. Dân chủ là gì? Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng người Hy Lạp cổ là chủ nhân sáng tạo nền dân chủ và các thiết chế dân chủ”.

Như vậy, khái niệm dân chủ được ông Trí Dũng xác định là “nền dân chủ và các thiết chế dân chủ”, tức thể chế dân chủ, chính thể dân chủ. Thế nhưng sau đó ông lại viết: “Tựu trung, xét về bản chất, dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng từng cá nhân con người như một thành viên bình đẳng trong xã hội, được lắng nghe và được thể hiện quan điểm, là quyền được tham gia các hoạt động của đời sống chính trị, xã hội của đất nước, tham gia quản lý xã hội và xây dựng các quyết sách thông qua các cơ chế khác nhau trên cơ sở đồng thuận xã hội”.

Trước hết, tác giả lẫn lộn “chính thể dân chủ” với “tính dân chủ”, “sự dân chủ”. Chính thể dân chủ là cả một thiết chế nhà nước do nhân dân làm chủ (sẽ trình bày bên dưới), còn tính dân chủ, sự dân chủ chỉ ở trong phạm vi một vấn đề, một sự việc. Ví dụ nói: vấn đề này đã được bàn bạc một cách dân chủ.

Thứ hai, tác giả lẫn lộn giữa “chính thể dân chủ” và “quyền công dân”, “quyền con người”. Quyền công dân là những quyền được ghi trong hiến pháp của một nước; và như vậy, quyền công dân không nói lên được chính thể ấy có phải là chính thể dân chủ hay không. Chưa kể, quyền công dân nếu chỉ có trên giấy thì càng không thể coi dân nước đó đã có quyền công dân. Trong một chính thể dân chủ, cũng chưa chắc quyền con người được bảo đảm. Ví dụ trong một số chính thể dân chủ thời cổ đại, người nô lệ gần như chẳng có quyền gì, nhưng nó vẫn là chính thể dân chủ.

Bây giờ xin nói qua về chính thể dân chủ. Montesquieu định nghĩa về ba loại chính thể như sau: “Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hay một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao. Chính thể quân chủ thì chỉ có một người cai trị, nhưng cai trị bằng luật pháp và được thiết lập hẳn hoi. Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ có một người cai trị, mà không luật lệ gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi”[2].

Trong chính thể dân chủ, dân chúng nắm quyền lực tối cao. Thế nào là nắm quyền lực tối cao? Nói đơn giản như sau: Người dân bầu ra (bầu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua nghị viện) chính phủ của mình để chính phủ quản lý xã hội và bảo vệ quyền lợi chung của quốc gia. Nói cách khác, quyền lực của nhân dân được thực thi thông qua hình thức uỷ quyền, hay nói một cách dễ hiểu hơn là thuê mướn. Tôi – nhân dân góp tiền (thông qua việc đóng thuế) thuê anh – chính phủ, anh phải có trách nhiệm làm những việc tôi giao; nếu anh làm không ra gì tôi không thuê nữa, tức là tôi phế truất anh, và tôi thuê(bầu) anh khác.

Vì thế, Montesquieu viết: “Trong chính thể dân chủ, theo một cách nhìn nào đó, có thể coi dân chúng như vua (…) Dân là “vua”, bởi họ được thể hiện ý chí của mình bằng các cuộc đầu phiếu (…) Dân chúng có quyền lực tối cao phải tự mình làm lấy những điều có thể làm tốt được, còn những điều mà dân không thể làm tốt được thì phải giao cho các vị bộ trưởng thừa hành. Các vị bộ trưởng nếu không do dân cử thì không phải là của dân. Châm ngôn cơ bản của chính thể dân chủ là: dân bầu ra bộ trưởng, tức là bầu ra người quan chấp chính để cai trị mình”[3].

Không phải đến xã hội tư bản mới có chính thể dân chủ. Một số chính thể dân chủ đã từng tồn tại ở Atthen (Hy Lạp cổ đại) và Roma (La Mã cổ đại). Cho nên Montesquieu đã mô tả các thể chế dân chủ này trong Bàn về tinh thần pháp luật (1748), trước cả khi nền dân chủ Pháp được thiết lập. Tất nhiên, các nền dân chủ tư sản thời cận đại, và đặc biệt là thời nay, thì nó hoàn thiện hơn rất nhiều, nhưng vẫn không ra ngoài nguyên tắc trên.

Không biết tôi diễn giải như thế đã giúp ông Trí Dũng hiểu thế nào là thể chế dân chủ hay chưa? Vì xem ra ông giải thích dân chủ không những tù mù, rối rắm, thể hiện một nhận thức lơ mơ mà điều đặc biệt sai lầm hơn là ông hiểu dân chủ như một thứ bổng lộc của kẻ cầm quyền ban phát cho dân chúng, theo một cơ chế “xin – cho”, chứ không phải đó là phương thức của dân chúng uỷ quyền (thuê mướn). Ông viết: “Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều quyết sách bảo đảm thực thi các giá trị dân chủ…”. Dân chủ sao lại có thể thực thi bằng “quyết sách” của nhà cầm quyền được? Dân chủ chỉ có thể thực thi bằng những điều quy định trong hiến pháp và được cụ thể hoá bằng các luật phù hợp với hiến pháp. Nhà cầm quyền nếu tự ý ra quyết sách thì bao giờ cũng để bảo vệ lợi ích của nhà cầm quyền. Nhưng trong thể chế dân chủ, nhà cầm quyền dù làm gì cũng phải thực thi theo hiến pháp và luật, tức là làm theo ý chí của nhân dân, chứ không phải ý chí của nhà cầm quyền. Nếu nhà cầm quyền không làm theo ý chí của nhân dân thì nhân dân lôi cổ họ xuống, thậm chí tống cổ họ vào tù (các quan toà chỉ thực thi theo luật, bất kể kẻ phạm tội mang chức gì). Những người từng sống nhiều năm ở các chế độ dân chủ đều phát biểu rằng nhà cầm quyền ở những nước này rất sợ nhân dân. Bởi vì nhân dân sẵn sàng phế truất họ thông qua lá phiếu bầu và thông qua công luận. Ngược lại, họ cũng sẽ được nhân dân kính yêu nếu làm tốt phận sự.

Khi hiểu dân chủ như tôi đã trình bày thì dù là dân chủ tư sản hay “dân chủ Hồ Chí Minh” (theo cách gọi của ông Trí Dũng) thì nguyên tắc đều như nhau. Nếu có những biến thể khác nhau thì chúng cũng không hề xung đột nhau đến mức thành ra đối lập giữa “dân chủ Hồ Chí Minh” (dân chủ XHCN) với dân chủ tư sản. Cho nên, nếu chính thể hiện thời của ta là chính thể dân chủ thì ta luôn luôn có nhu cầu tham khảo các chính thể dân chủ khác để bổ sung cho chính thể dân chủ của mình ngày càng dân chủ hơn, chứ không bao giờ đi phỉ báng các chính thể dân chủ khác như ông Trí Dũng cũng như nhiều đồng nghiệp của ông đã và đang làm. Sinh thời, Cụ Hồ cũng không bao giờ làm những việc như thế.

3. Một thái độ vu cáo, phỉ báng các nhân sỹ, trí thức

Ngay phần đầu, ông Trí Dũng viết (được đưa lên thành sapô, in đậm): “Thời gian gần đây, lợi dụng dân chủ trong việc lấy ý kiến của toàn dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nhiều nhóm người tự xưng danh những nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền đã đưa ra những luận điệu phản động, xuyên tạc sự thật, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thiết lập chế độ tam quyền phân lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai…”

Đó là một lô “tội lỗi” của nhóm Kiến nghị 72 nhưng không hề được tác giả phân tích, không hề được tác giả chứng minh qua nội dung bản Kiến nghị hay cách đưa Kiến nghị xem nó “phản động” ở chỗ nào. Ông không biết cách viết một bài văn nghị luận (đã học từ cấp 2) hay do không thể tìm được cứ liệu nào để sáng tỏ các luận điểm này? Nếu bài trước do “sơ xuất” thì đề nghị ông viết tiếp một hay nhiều bài để chứng minh được các vấn đề sau đây:

Nhóm Kiến nghị 72 đã “lợi dụng dân chủ” như thế nào?

Nhóm Kiến nghị 72 đã “đưa ra những luận điệu phản động, xuyên tạc sự thật” như thế nào?

Đa nguyên chính trị, đa đảng, tam quyền phân lập xấu xa, có hại ở chỗ nào?

Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang (ông Trí Dũng dẫn ý không đúng; đúng ra là trung lập hoá lực lượng vũ trang, tức lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào) thì có hại ở chỗ nào?

Xóa bỏ chế độ “sở hữu toàn dân” về đất đai thì có hại như thế nào? Ông giải thích thế nào nạn tham nhũng đất đai (còn gọi là cướp đất) vô phương cứu chữa hiện nay? Có phải đó chính là do chế độ “sở hữu toàn dân” gây ra?

Sau khi quy chụp vô căn cứ nhóm kiến nghị 72 như trên, ông Trí Dũng còn kết tội hậu quả do “những nhà dân chủ” (những nhân sỹ, trí thức khởi xướng Kiến nghị 72) gây ra, coi họ là những người gây “bất ổn xã hội” và theo ông, từ bất ổn xã hội sẽ “gây ra những hệ lụy đau đớn thế nào với một quốc gia, một dân tộc”. Cái kiểu hù doạ lố bịch đó không những không doạ được ai mà còn gây mối bất hoà giữa Đảng và trí thức, giữa công luận “lề Đảng” (hệ thống báo chí chính thống) và công luận “lề dân” (mạng truyền thông xã hội).

Chưa bàn nội dung đúng sai ở đây mà trước hết bản Kiến nghị 72 là một bản kiến nghị đầy thiện chí, nó chỉ có mong muốn Đảng và Nhà nước nhận thức đúng những căn bệnh hiện nay, dũng cảm đổi mới đất nước và đổi mới chính mình, đưa dân tộc Việt Nam và cả Đảng Cộng sản Việt Nam thoát khỏi cơn khủng hoảng, đổ vỡ để tiến kịp thời đại. Bản Kiến nghị được 15 vị trí thức (nhiều vị đồng thời là cựu quan chức) có uy tín đem đến địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội và trao tận tay cho ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban biên tập Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, theo đúng tinh thần của nghị quyết về sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội. Cho đến nay, bản Kiến nghị đã được 14.558 người ký tên ủng hộ, có lẽ đó là một con số ký kiến nghị lớn nhất trong các kiến nghị ở Việt Nam từ trước đến nay. Ngoài 72 nhân sỹ trí thức ký đợt 1, còn hàng trăm trí thức có tên tuổi khác, trong đó có nhiều trí thức Việt kiều. Nếu phỉ báng 14.558 người nói trên thì thực là coi trời bằng vung. Nói cụ thể là nó tạo ra sự đối lập giữa Đảng với trí thức, giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa Đảng, Nhà nước với kiều bào. Và như vậy nó chống lại khối đại đoàn kết dân tộc, trong khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sỹ trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ”[4].

Ngược với những “tiên đoán” của ông Trí Dũng, cho rằng các ý kiến về dân chủ trong Kiến nghị 72 sẽ gây “bất ổn xã hội”, những người có hiểu biết, kể cả những người có lương tri trong bộ máy Đảng và Nhà nước đều thấy rằng nguy cơ bất ổn, nguy cơ sụp đổ chế độ, nguy cơ mất nước không phải do dân chủ, mà là do sự đóng kín dân chủ, do sự cự tuyệt dân chủ của “một bộ phận không nhỏ” (theo cách nói của ông Tổng bí thư Đảng) thoái hoá, biến chất. Họ lo sợ bị mất những quyền lợi bất chính của riêng mình mà cố kìm hãm dân chủ. Nếu nhân dân có bị “kích động”, có “gây rối” thì chính là do chính sách bóp nghẹt dân chủ, dân sinh, chính sách đàn áp những người muốn bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc trước các hành động xâm lược của Trung Cộng mà thôi.

Để kết thúc bài này, cũng xin thưa với ông Trí Dũng và những người đồng quan điểm với ông, rằng nhóm Kiến nghị 72 chẳng thể nào làm được cái việc “kích động”, “gây rối”. Bởi trong tay họ không một tấc sắt, không một lực lượng, không có cả một tổ chức. Đến phương tiện ngôn luận, họ cũng chỉ có các blog cá nhân và mạng facebook (cũng luôn luôn bị bao vây, ngăn chặn). Thật là châu chấu đá xe so với cả một nhà nước có một rừng quân đội và cảnh sát, có một rừng diễn đàn với 700 tờ báo và đài phát thanh, truyền hình.

Cũng cần phải nói thêm: báo Hà Nội Mới đã làm một việc không đẹp thuộc văn hoá – đạo đức của nghề báo: đăng bài phê phán mà lại không đăng bài bị phê phán. Tức là không đăng bản Kiến nghị 72Tuyên bố công dân tự do. Tất nhiên có tiền lệ các báo trong hệ thống báo chí nhà nước thường như vậy, nhưng đó là một tiền lệ xấu. Ở một số trường hợp khác họ có thể có lý do, rằng tôi không chỉ đích danh ai mà chỉ nói “thế lực thù địch” chung chung. Nhưng ở một bài báo đã chỉ đích danh đối tượng mà họ kết tội như bài báo của ông Trí Dũng thì lẽ ra báo Hà Nội Mới phải đăng kèm toàn văn Kiến nghị 72Tuyên bố công dân tự do mới phải.

____________________

[1] Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2, NXB Sự thật, 1980, tr.491, bài Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách người tốt, việc tốt, 1958.

[2] Bàn về tinh thần pháp luật, NXB Lý luận chính trị, 2006, trang 46.

[3] Sđd, trang 47, 48.

[4] Sđd, trang 278, bài Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công, 1962

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Bài bào chữa của luật sư Hà Huy Sơn cho bị cáo Nguyễn Phương Uyên

“cho Nguyễn Phương Uyên về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” điểm c khoản 1 điều 88 BLHS”

Kính thưa: Hội đồng xét xử

Tôi, Luật sư Hà Huy Sơn Công ty Luật TNHH Hà Sơn thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội là người bào chữa cho Nguyễn Phương Uyên trình bày quan điểm bào chữa như sau:

I. Tóm tắt vụ án:

Nguyễn Phương Uyên, sinh 12/10/1992; sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Tp.Hồ Chí Minh.

HKTT: Thôn Lâm Giang, xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở: Số 9 Dương Đức Hiền, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Tp.HCM.

Trình độ học vấn: 12/12.

Bị truy tố theo điểm c khoản 1 điều 88 Bộ luật hình sự 1999, 2009:

“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

A) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

B) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

C) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quyết định khởi tố vụ án số 01 ngày 19/10/2012.

Quyết định khởi tố bị can số 03 ngày 19/10/2012 đối với Nguyễn Phương Uyên.

Bị bắt từ ngày 19/10/2012.

Tiền án, tiền sự: không.

Kết luận điều tra số 01/ANĐT ngày 26/02/2013 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An “Vụ án: Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, khởi tố ngày 19/10/2012 do Đinh Nguyên Kha và đồng bọn thực hiện”.

Cáo trạng số 31/QĐ-KSĐT ngày 06/03/2013 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

II. Các hành vi bị truy tố:

Lần thứ nhất vào khoảng giữa tháng 08/2012:

1. Về lá cờ vàng ba sọc đỏ: Uyên sử dụng giấy trắng A4, dùng bút sáp màu và màu đỏ tô thành lá cờ; phía dưới lá cờ có ghi chú thích bằng bút sáp màu đen dòng chữ: “1890 – 1920: Đại Nam quốc kỳ từ thời vua Thành Thái tới vua Khải Định; 1948 – 1975: Cơ quốc gia Việt Nam”. (trang 03 – Cáo trạng)

1.1. “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, còn gọi là cờ vàng ba sọc đỏ được vua Bảo Đại sử dụng năm 1948. Đây là Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam (do Pháp kiểm soát ở cả miền bắc và miền nam Việt Nam) từ năm 1949 đến 1955.

Năm 1890, lá cờ vàng ba sọc đỏ được tạo ra và sử dụng lần đầu tiên như là lá cờ quốc gia (Đại Nam Quốc kỳ 1890-1920)”.

Theo lịch sử thì đây là lá cờ của tổ tiên mà sau này Nhà nước Việt Nam Cộng hòa dùng lại và cũng như tên “Việt Nam” là do tổ tiên để lại chứ không phải là biểu tượng của thế lực phản động nào. Phương Uyên không làm ra, không xuyên tạc, không phỉ báng chính quyền nhân dân vì đây là sự thật lịch sử có trước cả Nhà nước CHXHCN Việt Nam (sinh ra năm 1976).

1.2. Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào cấm vẽ, dán cờ vàng ba sọc đỏ tại nơi công cộng.

1.3. Điều 69 Hiến pháp năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận,”.

Khoản 2 điều 19 Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm 1996 (Việt Nam tham gia năm 1982), quy định: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.”

Điều 19 Tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc năm 1948, quy định:Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.”

Hành vi này không vi phạm pháp luật, không có nội dung chống Nhà nước CXHCN Việt Nam nên không vi phạm điểm c khoản 1 điều 88 BLHS.

2. Về khẩu hiệu: Uyên sử dụng hai mảnh vải trắng, lấy máu pha loãng với nước, rồi dùng ngón tay chấm viết, một mảnh có nội dung phỉ báng Đảng Cộng sản Việt Nam, mảnh vải còn lại có nội dung không hay về Trung Quốc. Cả hai mảnh vải phía dưới đề ghi: “TH: TTYN”; (trang 03 – Cáo trạng)

2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam không phải là một, nên không thể cho rằng phỉ báng Đảng là phỉ báng Nhà nước; đây không thuộc nội hàm của điều 88 BLHS. Hơn nữa, trong BLHS không có “Tội tuyên truyền chống Đảng Cộng sản Việt Nam”.

2.2. Nội dung mảnh vải ghi: “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông” là quyền của công dân ghi ở điều 77 Hiến pháp năm 1992 “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”. Về yếu tố lịch sử và luật pháp quốc tế Trung Quốc không có chủ quyền ở Biển Đông. Trung Quốc là kẻ đã xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam việc phản đối kẻ xâm lược là một hành động yêu nước không thể bị kết tội.

2.3. Chữ viết tắt “TH: TTYN” không có nội dung, không ý nghĩa gì.

3. Về bức tranh: Uyên vẽ bức tranh miêu tả một người công an to lớn, tay cầm dùi cui chỉ về phía người dân đang xếp hàng. Bên trên bức tranh ghi dòng chữ “tự do dân chủ”, phía dưới bức tranh ghi: “TH: TTYN”.

3.1. Tệ nạn bất công, tham nhũng, thiếu dân chủ trong xã hội xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc Đảng và Nhà nước đã nhiều lần thừa nhận công khai. Những năm gần đây các các trường hợp công an đánh người, bắn chết người xảy ra nhiều …gây ra bức xúc cho xã hội nên việc Phương Uyên có vẽ bức tranh đó cũng không phải là xuyên tạc, phỉ báng mà là phản ánh một phần sự thật của xã hội, tất nhiên bên cạnh đó cũng có rất nhiều hình ảnh đẹp về cán bộ, chiến sĩ công an.

3.2. Như trên tôi đã nêu đây là quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân.

Lần thứ hai: vào các ngày 03/10/2012, 08/10/2012, Phương Uyên chỉ đổi tiền lẻ do Kha nhờ chứ không biết đến nội dung ghi trên tờ rơi.

Khoản 2 điều 63 “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” BL TTHS, quy định:

Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:

Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”

1. Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 10/10/2012 (Bút lục 55). Thu được khoảng 650 tờ rơi KT (07 x 14) có nội dung kêu gọi “Tuổi trẻ Việt Nam đứng lên chống lại Trung Quốc”. Không thể coi đây là hành vi “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.

2. Biên bản hỏi cung Phương Uyên ngày 23/11/2012 (Bút lục 730). Nội dung cho rằng Phương Uyên phỉ báng lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là không đúng, bởi lẽ: Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hơn nữa Hồ Chí Minh mất năm 1969, đến năm 1976 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới ra đời.

3. Mặc dù Kết luận điều tra không hề nói đến nhưng Cáo trạng của Viện kiểm sát lại cho rằng sau khi các hành vi trên của Phương Uyên: Nguyễn Thiện Thành có kế hoạch chống nhà nước quy mô hơn bằng cách rải truyền đơn, có tên gọi là “Chiến dịch tờ tiền lẻ” làm nghiêm trọng hơn tính chất của sự việc mà không đưa ra chứng cứ để chứng minh: Kế hoạch, chiến dịch đó như thế nào? làm bất lợi cho các bị cáo là vi phạm (điều 64 – chứng cứ của BL TTHS) và làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án, vi phạm (điều 10 BL TTHS).

4. Việc làm của Kha và Uyên rải tờ rơi ngày 10/10/2012 tại cầu vượt An Sương, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.HCM là lần đầu tiên do Nguyễn Thiện Thành giới thiệu thì hai người mới biết nhau, hành vi kết hợp giản đơn không có sự phân công chặt chẽ nên không phải là hành vi có tổ chức.

III. Các vi phạm tố tụng hình sự:

1. Các cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước nước” được lập ra ở lãnh thổ nước nào? đã đăng tải các hình ảnh như cáo trạng đưa ra vào thời gian cụ thể nào? là vi phạm khoản 1 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:

“Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;”

Ai là người quản trị trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước nước”? là vi phạm khoản 2 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:

“Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”

Không xác định được trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước nước” có số lượt người trong nước truy cập là bao nhiêu để đánh giá mức ảnh hưởng của nó? là vi phạm khoản 4 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:

“Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.”

Việc đăng tải các file ảnh trên trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước nước” là do người quản trị trang này phải chịu trách nhiệm về việc “phổ biến, tuyên truyền” chứ không phải là trách nhiệm của Nguyễn Phương Uyên.

2. Không có chứng cứ để xác định trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước nước” là có thật – là vi phạm khoản 1 điều 64 “Chứng cứ” – BL TTHS, quy định:

“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

3. Các cơ quan điều tra không xác định định được chứng cứ là Phương Uyên đã gửi các file ảnh từ máy tính nào (số hiệu máy tính), thời gian (ngày, tháng) nào? mà chỉ vừa duy nhất là lời khai của Phương Uyên.

4. Các biên bản hỏi cung ngày 23/11/2012 (BL 729), 09/01/2013 (BL 738) đều do các điều tra viên in từ máy vi tính để Phương Uyên ký là vi phạm khoản 1 điều 95 “Biên bản” – BL TTHS, quy định:

“Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất.”

5. Bút lục 38 “Đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can” ngày 19/10/2012 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An đối với Phương Uyên gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An không có số, nội dung không ghi số quyết định khởi tố vụ án, số quyết định khởi tố bị can. Đây là dấu hiệu vi phạm tố tụng hình sự để hợp thức hóa hồ sơ vụ án.

IV. Các cơ sở suy đoán vô tội:

6. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và gặp Phương Uyên tôi nhận thấy Phương Uyên là nạn nhân của Nguyễn Thiện Thành, người mà Phương Uyên chưa gặp mặt bao giờ. Cơ quan an ninh điều tra không bắt được Nguyễn Thiện Thành; không xác định được tổ chức “Tuổi trẻ yêu nước” của Nguyễn Thiện Thành là như thế nào hay đây chỉ là cái bẫy để Nguyễn Thiện Thành gài những thanh niên sinh viên có nhiệt huyết với đất nước như Nguyễn Phương Uyên và những thanh niên sinh viên khác. Theo quan điểm của tôi vụ án Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên sẽ làm cho thanh niên sinh viên Việt Nam không dám quan tâm đến chủ quyền biển đảo Quốc gia và đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng trong xã hội; gây bất lợi cho việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam.

7. Bức xúc trước tệ nạn tiêu cực, tham nhũng ngày càng diễn ra phổ biến trong xã hội, nguyên nhân là do tội của không ít các cán bộ công quyền trong bộ máy nhà nước gây ra. Điều đó đã tác động đến tinh thần của Phương Uyên một sinh viên trẻ tuổi trung thực nên Phương Uyên nhìn và có phản ứng tiêu cực với bộ máy nhà nước là một tâm lý chính đáng, dễ hiểu. Các hành động xâm phạm chủ quyền và tàn sát ngư dân Việt Nam ngày càng gia tăng của nhà cầm quyền Trung Quốc trong những năm gần đây; được giáo dục trong nhà trường về trách nhiệm và tình yêu Tổ quốc là một người Việt Nam tất yếu Phương Uyên có phản ứng phản đối Trung Quốc. (điểm đ khoản 1 điều 46 – BLHS).

8. Phương Uyên đã trung thực hợp tác với Cơ quan điều tra như trang 11 của Kết luận điều tra số 01/ANĐT ngày 26/02/2013 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An. Tự nguyện giao nộp các đồ vật tại Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755) của Cơ quan điều tra. (điểm p khoản 1 điều 46 – BLHS).

9. Phương Uyên ngày 19, 20/08/2012 có dán cờ vàng, 01 khẩu hiệu “Tàu khựa cút khỏi biển Đông”, 01 tranh biếm họa ở gần nhà thuộc địa bàn xã Hàm Trí, Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận thì đây là một vùng nông thôn nghèo, ít người biết đến, dân trí còn thấp không có ảnh hưởng đáng kể.

10. Phương Uyên bị truy tố theo điểm c khoản điều 88 BLHS: “Làm ra, tàng trữ, lưu hành…” nhưng Phương Uyên không “tàng trữ” bất cứ một tài liệu nào. Theo Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755) các file ảnh Cơ quan điều tra có được là do phục hồi thẻ nhớ sau đó in ra giấy bắt Phương Uyên ký xác nhận.

11. Phương Uyên không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt hành chính.

12. Phương Uyên là một sinh viên tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Tp.Hồ Chí Minh.

13. Được bạn bè sinh viên quý mến; là một người con ngoan của gia đình.

V. Về phần dân sự:

Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755), Phương Uyên là người tự nguyện giao nộp đồ vật. Đề nghị Tòa trả lại cho Phương Uyên:

1. Thẻ nhớ máy ảnh hiệu Transcend HC 4GB vì không có thông tin, tài liệu liên quan vụ rải truyền đơn;

2. Thẻ nhớ điện thoại loại micro 256MB vì kết quả, máy vi tính không nhận diện được thẻ nhớ này;

3. Điện thoại di động, hiệu Nokia 6131 vì kết quả, máy vi tính không nhận diện được thẻ nhớ của điện thoại (mục 2).

VI. Kết luận:

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát thì hành vi của Nguyễn Phương Uyên không gây ra hậu quả nào cho xã hội; không có động cơ, mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các hành vi của Nguyễn Phương Uyên chỉ là phản ánh bức xúc cá nhân trước hiện trạng của đất nước và muốn cảnh tỉnh thanh niên sinh viên về ý thức và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Các hành vi của Nguyễn Phương Uyên không cấu thành trách nhiệm hình sự vì vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử hãy công minh xem xét tuyên Nguyễn Phương Uyên vô tội.

Trân trọng cám ơn sự lắng nghe của các quý vị./.

Long An, ngày 16/05/2013
Người bào chữa
Luật sư Hà Huy Sơn

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Ngọc Già – Những suy nghĩ sau vụ án Uyên và Kha

Ba sẽ là cánh chim đưa con đi thật xa
Mẹ sẽ là cành hoa cho con cài lên ngực
Ba mẹ là lá chắn
Che chở suốt đời con
Vì con là con ba, con của ba rất ngoan
Vì con là con mẹ, con của mẹ rất hiền
Ngày mai con khôn lớn
Bay đi khắp mọi miền
Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!

(Cho Con – Phạm Trọng Cầu) [1]

Bài hát dành cho thiếu nhi làm tôi xúc động khi nghĩ về những đấng sinh thành của hai cháu Uyên và Kha.

Đây là lần đầu tiên trong nhiều vụ án chính trị mà những người thân của bị cáo xuất hiện vừa giản dị lại vừa ấn tượng. Giản dị, bởi họ xuất hiện với hình thức thật nhất như vốn có; Ấn tượng, bởi họ là những thường dân, tầng lớp mà ông “giáo sư” Đàm Thanh Sơn ngỡ là “thờ ơ” [2].

Ấn tượng nhất xuất phát từ sự bình thản của cha, mẹ và anh, chị, em của Uyên và Kha. Từ những khuôn mặt của họ, người ta không thấy một giọt nước mắt, không thấy một sự sợ hãi hay hoang mang nào trước việc người thân bị khép tội “xâm phạm an ninh quốc gia” với tổng cộng 14 năm tù giam và 6 năm quản thúc. Đó là một hình ảnh đẹp. Cái đẹp xuất phát từ nội tâm hiền lương và nhân hậu của những gia đình Việt Nam thuần chất vẫn giữ được giềng mối tình thâm trong xã hội ngày càng sa sút nghiêm trọng về đạo đức. Trước đó, gia đình Kha đã phải bán chiếc tủ thờ bằng cẩm lai để có 9 triệu đồng mà xoay xở.

Những người cha, người mẹ như thế làm sao có thể sanh ra và nuôi dạy được những đứa con hám tiền, ham danh và ngu dốt???!!! Không!!! Tôi không bao giờ tin điều đó, bất chấp mọi “chứng cớ” phía cầm quyền nêu ra, cũng như có người đã gọi Uyên và Kha là “những con tốt thí mạng trên bàn cờ chính trị” [3]. Thậm chí, nếu có kẻ nào đó lợi dụng Lòng Yêu Nước của Uyên và Kha để biến hai cháu trở thành “con tốt thí” như Tiểu Bối nói, thì người hiểu biết và nhân hậu nên nguyền rủa tên lừa đảo hơn là làm điều đó đối với người bị lừa! Chính điều này làm bật lên sự trong sáng thanh khiết về Lòng Yêu Nước của Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.

Một điều không nhỏ cần nhắc tới, Nguyễn Phương Uyên đã sống như thế nào để khiến có trên 100 người bạn tự nguyện đồng ký tên gửi ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước đề nghị trả tự do cho cô mà sau đó nhóm bạn đó bị ép buộc chối bỏ?! Đó không chứng tỏ nhân cách sống chan hòa và chân thật, nhân ái của cháu Uyên???

Trong nhiều tháng bị giam cầm, đánh đập và bức cung để nhận tội, không biết Uyên và Kha dao động như thế nào, nhưng trước tòa, khi nói những lời cuối:

Đinh Nguyên Kha dõng dạc: “Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu Dân Tộc tôi. Tôi không hề chống Dân Tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội“.

Còn Nguyễn Phương Uyên bình thản: Việc tôi làm thì tôi chịu xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”.

đủ chứng tỏ hai thanh niên này hoàn toàn chín chắn để hiểu rõ việc làm vô tội của mình.

Thật khó khăn để thấy Uyên và Kha tự tin, bình tĩnh đứng trước vành móng ngựa với những lời nói khảng khái, hào hiệp, một khi hai cháu không có một gia đình nhân hậu và hiền lương làm điểm tựa vững chãi! Đó có phải là một trong những điều làm Luật sư Nguyễn Thanh Lương buồn rầu: “Tôi thấy mình hèn hạ và bất lực khi chỉ đòi cho Phương Uyên được 5 ngày tù mà không làm cho bản án của em nhẹ đi… Tôi không có biết là 2 em sinh viên có kháng án hay không nhưng hình ảnh của họ ở phiên tòa hôm nay nó đay đáy vào tận giấc ngủ của tôi trong nhiều ngày tới”.

Không chỉ LS. Lương có cảm giác “hèn hạ và bất lực” cũng như hình ảnh Uyên và Kha ám ảnh và trằn trọc trong giấc ngủ của ông, mà tôi tin tất cả chúng ta, những người Việt Nam còn lương tri đều cảm thấy nhục nhã khi nhìn khuôn mặt hiền hậu, khả ái của hai thanh niên Việt Nam đứng trước “cái tòa án” vô nhân đạo và bất lương kia!

Hãy tin và chỉ nên tin những gì diễn ra trước mắt quảng đại quần chúng, đó mới là sự thật trên tất cả những gì gọi là sự thật mà chúng ta chỉ nghe. Đó cũng chứng minh sự quang minh chính đại và hào sảng của tuổi trẻ Việt Nam.

Tất cả chúng ta, những người lớn – chúng ta là những tên khốn nạn, hèn hạ và ác tâm khi chứng kiến tuổi trẻ Việt Nam bị dày vò và đày đọa như thế!

Nguyễn Ngọc Già
________________

[1]

https://danluan.org/tin-tuc/20130517/dam-thanh-son-thu-tra-loi-chi-nguyen-thi-tu-huy-7-4-2013 [2].

Ông Đàm Thanh Sơn viết: “Nếu quần chúng thờ ơ thì Đảng nào lãnh đạo cũng thế thôi”. Với lý luận của ông Sơn, ĐCSVN (cướp quyền) “lãnh đạo” hơn 38 năm qua, có lẽ do người dân (mà trước đây ông ta cũng là một người VN ở trong nước) “thờ ơ”? Do đó, đảng nào “cũng thế thôi” (vì đều “cá bè một lứa” như… ĐCSVN). Chỉ riêng cái thứ “ý kiến giữ điều 4 HP” của tầng lớp gọi là “trí thức” kiểu ông Đàm Thanh Sơn, Ngô Bảo Châu, Nguyễn Anh Tuấn và các ông “Cùng Viết Hiến Pháp” mới được coi là không thờ ơ (?!). Thử hỏi tương lai, giả sử một đảng ABC nào đó cũng đưa “điều 4″ vào HP (nhưng gọi nó là điều 5, điều 6, điều 7 gì đấy), thì lập luận của ông Sơn có xứng đáng gọi là trí tuệ của một “giáo sư” (thiệt chứ không phải dỏm như nhiều quan chức tại VN)???!!! Người dân không cần cái loại “Có bằng Tiến sĩ mới đột phá tư duy”. https://danluan.org/tin-tuc/20090923/nguyen-quang-a-100-cong-chuc-cap-cao-la-tien-si-thi-dan-ta-di-an-may. Bởi cái loại “tư duy đột phá” kiểu Đàm Thanh Sơn chỉ khiến cho “dân ta đi ăn mày” là hình ảnh tốt nhất mà tôi có thể hình dung ra được!

https://danluan.org/tin-tuc/20130518/tieu-boi-hay-can-than-dung-lam-con-tot-thi-mang-tren-ban-co-chinh-tri [3]

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Sự phá sản “Công tác dân vận” của Đảng qua phiên xử Phương Uyên và Nguyên Kha hôm 16/5

uk6.jpg?w=468&h=244
Không chỉ riêng tôi, nhiều người am tường thời cuộc đều có chung nhận định: Sở dĩ đảng CSVN trở thành bên thắng cuộc là họ đã rất thành công trong “Công tác dân vận“ thời còn chiến tranh.

Công tác dân vận của người CS giỏi tới mức đã lôi cuốn hàng triệu nam thanh nữ tú miền Bắc hồi thập niên 60s; 70s vượt Trường Sơn bom đạn với lời thề “sinh Bắc tử Nam“. Trong niềm lạc quan tin tưởng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dâỵ tương lai…“.

476px-nvamarch.jpg?w=238&h=300“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dâỵ tương lai“

Nhờ công tác dân vận điệu nghệ mà rất nhiều người dân ở các đô thị miền Nam sẵn sàng bất chấp nguy hiểm để nuôi dấu tiếp tay cho “các chiến sỹ biệt động“ cùng với hàng tấn vũ khí, thuốc nổ ở trong nhà mình để tạo nên cái gọi là “Cuộc tổng tấn công và nổi dậy ở các đô thị Miền Nam mùa xuân 1968“ (Lời kể của Đại tá Nguyễn Quốc Hùng – tức Tư Chu chỉ huy Biệt động Thành Sài Gòn-Gia Định)

Nhờ dân vận ngọt bùi mà những người dân ở tuyến lửa (Quảng Bình) đã dỡ cả nhà của mình để lấy cột nhà bắc cầu cho xe ô tô của bộ đội cụ Hồ. Đảm bảo giao thông thông suốt tiếp tế cho chiến trường B. Nếu ai đã được xem bộ phim truyện “Rừng O Thắm“ thì sẽ thấy cái câu “xe chưa qua, nhà không tiếc“ là việc làm cụ thể, hoàn toàn tự nguyện của dân chúng chứ không chỉ dừng ở những dòng khẩu hiệu mang tính tuyên truyền.

Kẻ viết bài này còn nhớ hồi cuối thập niên 1960 đầu 1970, một đơn vị hậu cần của quân đội tới đóng quân ở làng. Hằng đêm, trước khi được các xe tải 3 cầu (Zin Khơ và xe Giải Phóng) tới “ăn hàng“ cơ man nào là vũ khí (đạn, chất nổ Made in USSR và Made in China…) trong các hòm gỗ thông lớn nhỏ từ 1 tới 2 người khiêng được các xe tải cỡ nhỏ âm thầm chuyển tới cất giấu ở khu Đình Đụn trong làng. Có đợt hàng về nhiều tới mức không còn chỗ chứa, các nhà dân xung quanh đình (như nhà tôi) còn tự nguyện dẹp hết các dàn khoai tây giống ở các gậm gường và cả gian buồng cho bộ đội làm kho tạm. Thời đó ngày nào máy bay Mỹ chả tới quần thảo trên đầu. Nói dại, nếu chúng phát hiện ra kho quân dụng của bộ đội chúng tương cho vài loạt Rốckét vào nhà thì chả có hầm chữ A hay hố cá nhân nào mà trụ được với hàng trăm tấn thuốc nổ và đạn dược chật ních nhà như vậy. Sự nguy hiểm thì người dân ai cũng mường tượng được. Nhưng lòng người thời chiến tranh ác liệt, không ai bảo ai đều tin theo những gì người của đảng vận động. Để vượt qua cả sợ hãi, góp phần nhỏ của mình cho cái khúc khải hoàn ca vào ngày 30 tháng tư 1975!

Nay, trên đỉnh vinh quang, khi trở thành tầng lớp ăn trên ngồi trốc, giới cầm quyền CS đã bội tín với những người đã giúp họ trở thành tầng lớp cai trị độc quyền. Điều này là lý do khiến lòng tin của đại đa số nhân dân với đảng suy giảm. Dẫn đến nguy cơ sụp đổ chế độ là hoàn toàn có thực.

Do vậy, cái thông điệp mà ông Tổng Trọng phát ra hôm bế mạc HN7 (11/5) rằng:

“lần này Trung ương bàn và ban hành Nghị quyết về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận là rất cần thiết trong tình hình hiện nay.

“Chỉ có đổi mới và làm tốt công tác dân vận, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với dân, cũng như khối đại đoàn kết toàn dân thì mới phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“… phải tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; hết lòng, hết sức chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chú trọng đến lợi ích trực tiếp của người dân; luôn trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh…”

Và:

“Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân” (nghe )

Chính là điềm báo cho một thể chế mà lời nói không đi đôi với việc làm đã và đang tới hồi bĩ cực khó bề cứu vãn.

Chả cần nói xa xôi làm gì. Chỉ cần lấy ngay kết qủa của phiên xử hai sinh viên yêu nước là Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha hôm 16/5/2013 vừa rồi thì thấy ngay câu trả lời về “Công tác dân vận” mà ông Tổng Trọng phát động hôm bế mạc Hội nghị T. Ư 7 (11/5) nó linh ứng tới mức nào?

nguyenphuonguyen-taukhua-cs-cutdi-danlambao.jpg?w=300&h=206

Thử hỏi, một sinh viên học giỏi lại ngoan hiền. Một cựu ủy viên BCH của cái gọi là “cánh tay phải” hay “đội hậu bị” của đảng mà đi quảng bá tờ rơi (truyền đơn): ‘Tàu khựa cút khỏi Biển Đông’ ‘Chết đi ĐCS VN bán nước’thì đủ biết công tác dân vận của ĐCS đã sa sút tới mức nào.

Sau kết qủa ngoạn mục của “Công tác dân vận” của lực lượng “còn đảng còn mình” với việc bắt cóc Phương Uyên giữa kỳ thi ép đưa vào giam giữ trong khách sạn và dụ dỗ buộc Phương Uyên phải viết giấy hợp tác thì mới cho về thi. Làm cô sinh viên ham học rất hoảng hốt, sợ bỏ thi và phải làm theo yêu cầu của cơ quan an ninh. Như thế tưởng là đã dập tắt được ý chí của cô gái trẻ. Không ngờ trước toà cô đã ngẩng cao đầu tuyên bố một cách đĩnh đạc: “Ông Hồ Chí Minh nói một năm bắt đầu từ mùa xuân, con người bắt đầu từ tuổi trẻ. Tôi là sinh viên có lòng yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền đất nước”

Lời cảnh báo về việc mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền đất nước của em Uyên liệu có gì mâu thuẫn với nội dung về công tác dân vận mà ông Tổng Trọng đang “Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân” trong tình hình nước sôi lửa bỏng hiện nay?

324338_480.jpg?w=300&h=180Đội tàu TQ bắt đầu đánh bắt hải sản trái phép vào hôm 13/5…

Tiếp theo vụ Trung Quốc tung 32 tàu cá của tỉnh Hải Nam sau gần 173 giờ di chuyển với hơn 850 hải lý đã tới mục tiêu, ở toạ độ 6°01’ vĩ Bắc và 108°48’ kinh Đông (là vùng biển phía tây nam QĐ Trường Sa của VN. So với Côn Đảo ở 8°36’ vĩ Bắc; 106°36’ kinh Đông) thì đó hoàn toàn nằm trong thềm lục địa của VN. (Như báo tuổi trẻ đưa tin ở đây). Kế đến là việc Trung Quốc đơn phương áp đặt Lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông năm 2013 từ 12 giờ ngày 16.5 đến 12 giờ ngày 1.8.2013 với phạm vi bao gồm cả một số vùng biển của Việt Nam. (Xem ở đây).

Vậy mà chỉ sau đúng 4 giờ rưỡi sau cái trò cấm đoán (“đơn phương… vô giá trị” – Lời người phát ngôn Lương Thanh Nghị) có hiệu lực kia thì một bản án vô cùng nặng nề cho người viết lên dòng chữ bằng máu ‘Tàu khựa cút khỏi Biển Đông’(“nói những điều không hay về Trung Quốc”) đã được tuyên với 22 năm tù giam và quản chế cho 2 em Khang và Uyên. Như thế có khác gì tình huống nằm ngửa nhổ ngược hay không, thưa ông Tổng Trọng. Nếu ông vẫn muốn “tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận” nhằm Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân”?

Ta hãy nghe một số ý kiến của những người không phải ở phe thua cuộc xem sao!

- “Tôi thấy mình hèn hạ và bất lực khi chỉ đòi cho Phương Uyên được 5 ngày tù mà không làm cho bản án của em nhẹ đi… Tôi không có biết là 2 em sinh viên có kháng án hay không nhưng hình ảnh của họ ở phiên tòa hôm nay nó đay đáy vào tận giác ngủ của tôi trong nhiều ngày tới”. Đó là lời luật sư Nguyễn Thanh Lương – Phó Đoàn Luật sư Bến Tre mà cũng làn người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nguyễn Phương Uyên trước tòa.

- Nhà báo T.D. (đề nghị dấu tên) cho biết: “Thì cũng như bao phiên tòa khác các nạn nhân của điều luật X nếu ai mà ăn năn nhận tội” thì án nhẹ. Ai mà “cương” thì lãnh án nặng. Thấy Anh Ba Sài Gòn của vụ anh Điếu cày không? án nhẹ hơn so với 2 người khác. Gần đây vụ Lô Thanh Thảo im lìm thì họ kéo xuống 2 năm từ 3 năm rưỡi ban đầu”.

- Lời vị Thẩm phán H. của tòa án tỉnh Đồng Nai nhận xét: “Tôi không theo dõi phiên tòa, nhưng thẩm quyền xét xử phải là của Tòa án thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải là Tòa án tỉnh Long An vì nơi diễn ra các hành vi vi phạm pháp luật là tại thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải ở tỉnh Long An”.

- Một phóng viên (dấu tên) của báo Pháp Luật TP qủa quyết: “Thực chất thì mấy ông tòa án không đủ tư cách và nhân cách để xét xử mấy sinh viên này”.

- Nguyễn Phương Uyên – dù em là “kẻ phạm tội” theo pháp luật Việt Nam hiện hành, dù em có quan điểm chính trị khác tôi, nhưng trong trái tim mình, tôi thực sự tôn trọng và tin các em là những người yêu nước, yêu Tổ quốc Việt Nam của mình thiết tha. – Đó là lời Luật sư Trần Hồng Phong (xem ở đây)

Không biết có phải vì nể phục nhân cách của 2 em sinh viên yêu nước mà những tấm hình được các tay nhà báo quốc doanh đưa lên mặt báo toàn những hình ảnh đẹp. Khiến nhà báo tự do nổi tiếng Trương Duy Nhất phải trầm trồ:

pu2.jpg?w=300&h=225Ảnh: Báo DanViet.VN

Những bức ảnh được đăng trên báo chí đều thể hiện sự bình tĩnh, đĩnh đạc của Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên trước tòa. Đặc biệt là bức ảnh Nguyễn Phương Uyên trong chiếc áo trắng học trò. Sự mảnh mai của một nữ sinh và cái nhìn đầy tự tin trước vành móng ngựa. Một bức hình tuyệt đẹp! Tin rằng rồi sẽ có nhiều bài thơ hay viết về em, về hình ảnh cô nữ sinh áo trắng mảnh mai với ánh mắt tự tin, bình tĩnh, đĩnh đạc này.

Còn Nhà văn thân dân Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa nổi tiếng thì xuýt xoa:

Tôi thích nụ cười ngạo nghễ của Võ Thị Thắng, tôi cũng thích sự bình thản trong suốt của Phương Uyên, cả hai đều ở tuổi hai mươi.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo (đúng như dự đoán của Trương Duy Nhất) vừa có bài Bỏ tù một đóa hoa với những vần thơ trác tuyệt thế này:

Trước vành móng ngựa gian manh
Phương Uyên chợt mọc lên thành đóa sen
Trái tim yêu nước thắp đèn
Phương Uyên em giữa bùn đen sáng lòa

Trên Trang Viet-Studies của GS Trần Hữu Dũng thì ông đưa ra nhận định thế này:

Tôi có linh cảm rằng, trong tuơng lai không xa, khi Việt Nam thật sự được tự do và dân chủ thì tên hai em này (và những người như hai em) sẽ là những dấu son trong những trang sử của dân tộc, còn những người hiện “ủng hộ Điều 4″, dù họ có là những giáo sư tiến sĩ học hàm học vị cao đến bực nào, danh tiếng trong ngành của họ có lẫy lừng đến đâu, sẽ nhiều lắm là được ghi tên trong một cước chú ngắn (a footnote to history!), mà khi đọc lại thì chính những người ấy (mà tôi nghĩ rằng vẫn còn chút lương tâm) sẽ thấy tự xấu hổ suốt cả đời, một tì vết không bao giờ phai trong sự nghiệp khoa học của họ.

Chỉ sau khi phiên tòa vừa kết thúc, đã có biết bao bài viết ca ngợi phong thái đĩnh đạc của Uyên và Kha với những tựa đề:

Còn nhớ cách đây chưa xa, lúc Uyên và Kha chưa lâm nạn, nhân ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 ông Trương Tấn Sang đương kim Chủ tịch nước đã từng khích lệ các em sinh viên thế này:

Phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.” (Xem ở đây).

Nay với lời cuối trước phiên tòa của nhà nước do ông là nguyên thủ, em sinh viên Nguyễn Phương Uyên 21 tuổi đời đã dõng dạc tuyên bố:

“Việc tôi làm thì tôi chịu xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn.”

160513_phap-luat_xu-an02_dan-viet.jpg?w=300&h=225Đinh Nguyên Kha phát biểu trước tòa…

Còn Đinh Nguyên Kha (26 tuổi đời) cũng tự tin ở việc làm của mình:

“Trước sau tôi vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống Đảng Cộng Sản, mà chống đảng thì không phải là tội”.

Không biết khi nghe được những nhời như thế, ông Sang và đảng của ông sẽ nghĩ gì? Nhưng lòng người dân thì đã rõ. Như ý kiến thỉnh cầu của Tiến sỹ Đặng Huy Văn, người bạn đồng lứa cùng trường Đại học Tổng hợp với ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng chẳng hạn. Ông Văn đã ghi những dòng đầy cảm động thế này:

Tôi viết bài này kính gửi TBT Đảng CS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng để thỉnh cầu ông cho phép tôi được đi tù thay hai cháu, vì tôi đã già không còn có ích cho ai nữa trong khi hai cháu Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha là những hiền nhân của Tổ Quốc. Hai cháu sẽ là ngọn cờ chống lại sự bành trướng xâm lược của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam trong tương lai!(Xem thêm ở đây)

Còn Bà Nhung, người mẹ tuyệt vời của Phương Uyên thì bày tỏ với Đài VOA rằng:

Thật sự gia đình rất sốc với bản án, nhưng ngược lại được bù đắp bởi sự mạnh mẽ của Uyên. Uyên cứng rắn hơn mức tưởng tượng của gia đình. Cháu đã nói lên tất cả những uẩn khúc trong vụ án và thể hiện lòng yêu nước. Phiên tòa hôm nay, bản án hôm nay rõ ràng là bản án dành cho người yêu nước. Trước tòa, Uyên nói dõng dạc: “Tôi yêu nước, tôi thể hiện lòng yêu nước. Tôi không ngờ tôi bị bỏ tù vì thể hiện lòng yêu nước” Gia đình rất lấy làm vinh dự, vinh hạnh về những việc con mình đã làm.

Thiết nghĩ đó là minh chứng hung hồn nhất cho sự phá sản “Công tác dân vận” mà đảng của ông Tổng Trọng đang muốn lội ngược dòng thông qua phiên tòa xử hai em sinh viên Tuổi Trẻ Yêu Nước Uyên và Kha hôm 16/5 vừa qua!

Gocomay

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Vạn Phú – Phép thử bauxite

Trong chương trình nghị sự của kỳ họp Quốc hội lần này thấy có bàn đến hai dự án khai thác bauxite. Tuy nhiên nếu các đại biểu cứ tranh luận dựa trên các lập luận cũ, đã đăng tải trên báo chí, kể cả dùng các số liệu chính thức từ TKV cũng không ăn thua. Bởi chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố: “Phải chờ hiệu quả thí điểm làm xong đến đâu đã. Bây giờ đang tính toán trên sổ sách và dự báo, nên nói ngay là lỗ bao nhiêu, hay có lỗ hay không là chưa đủ cơ sở”. (Nói như thế có nghĩa những tính toán dự án có lãi, có hiệu quả kinh tế của TKV cũng không có cơ sở!).

Các đại biểu muốn biết các dự án bauxite có thật sự hiệu quả hay không thì phải dùng biện pháp chất vấn để tìm cho bằng được câu trả lời thỏa đáng.

1. Vay vốn ở đâu mà rẻ thế?

Với dự án Lâm Đồng, TKV sẽ vay ngoại tệ 7.400 tỷ đồng (chiếm hơn một nửa tổng vốn đầu tư) với lãi suất chỉ có 4,75%.

Với dự án Nhân Cơ, TKV sẽ vay ngoại tệ 9.000 tỷ đồng (chiếm gần 65% tổng vốn đầu tư) với lãi suất chỉ có 5,45%.

Câu hỏi các đại biểu phải đặt ra cho TKV và cho Bộ Công Thương là nguồn vay ở đâu mà rẻ thế trong khi ngay bây giờ muốn phát hành trái phiếu quốc tế thì lãi suất phải trên 8%. Vay một lượng ngoại tệ lớn như vậy có phải thông qua Quốc hội hay không? Ai đứng ra bảo lãnh?

(Điều đáng ngạc nhiên là trong phương án cũ năm 2009, vốn vay nước ngoài của hai dự án này thấp hơn và lãi suất cao hơn nhiều (Lâm Đồng vay 4.300 tỷ đồng, lãi suất 7,75%; Nhân Cơ vay 5.300 tỷ đồng, lãi suất 8%). Vì sao sau bốn năm phải cần vay nước ngoài tăng thêm nhiều trong khi lãi suất lại giảm ngon lành đến thế?

2. Thuế sao tính lạ vậy?

Có hai loại thuế chính cho dự án bauxite là thuế tài nguyên và thuế xuất khẩu.

Trong kế hoạch cũ năm 2009, thuế tài nguyên được tính là 7% X giá thành khai thác quặng nguyên khai; kế hoạch mới năm 2013, thuế suất thuế tài nguyên được nâng lên 12%. Ai cũng nghĩ giờ các dự án này nộp thuế tài nguyên cao hơn. Không phải. Giá thành bình quân mỗi tấn được tính là 6,5 triệu đồng nhưng kế hoạch mới cho phép tính thuế suất 12% nhân cho 140.000 đồng/tấn quặng nguyên khai (một con số cố định, không hiểu dựa trên cơ sở nào cho một dự án kéo dài 30 năm). Không biết chênh lệch giữa quặng nguyên khai với quặng thành phẩm là bao nhiêu nhưng tính thuế kiểu đó thì khôn quá.

Thuế xuất khẩu theo kế hoạch cũ là 5% nay thuế xuất khẩu còn 0%.

Câu hỏi đặt ra là Luật Thuế xuất khẩu do Quốc hội thông qua; vậy thay đổi thuế suất như vậy Quốc hội đã biết chưa và đã có sự đồng ý chưa?

Chỉ cần TKV hay Bộ Công Thương nói về nguồn vốn ngoại tệ vay được với giá rẻ như thế cũng đủ rõ vấn đề để Quốc hội quyết định làm hay ngưng dự án bauxite.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Thị Từ Huy – Để chúng ta còn có thể tin tưởng lẫn nhau

Thư của Nguyễn Thị Từ Huy gửi GS Đàm Thanh Sơn

GS. Đàm Thanh Sơn kính mến,

Tiếp theo câu chuyện của chúng ta, tôi xin nói thêm một vài lời.

Phương Uyên và Nguyên Kha vào tù. Điều đó có nghĩa là chừng nào quyền lãnh đạo còn rơi vào tay một chính đảng duy nhất thì chừng đó công lý không tồn tại trên đất nước chúng ta.

Phương Uyên và Nguyên Kha bị kết án đi từ tội danh viết « nội dung không hay về Trung Quốc » đến tội danh « chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa ». Điều đó có nghĩa là độc lập dân tộc không còn tồn tại trên đất nước chúng ta.

Phương Uyên và Nguyên Kha bị kết án hàng chục năm tù. Điều đó cũng có nghĩa là các giá trị nhân đạo và tinh thần luật pháp không còn tồn tại nơi hệ thống tư pháp của chúng ta.

Tóm lại là, nếu tôi hiểu đúng, thì với sự thỏa hiệp khi đồng ý giữ lại điều 4 của hiến pháp các anh hy vọng rằng những giải pháp do các anh đề xuất sẽ khả thi, rằng sẽ khiến Quốc Hội lắng nghe các anh và thực thi các đề nghị của các anh về quyền con người, về tự do ngôn luận, tự do công dân, tam quyền phân lập…, nhưng vụ án của Phương Uyên và Nguyên Kha, diễn ra hơn một tháng sau khi đề xuất của các anh được công bố, đã ngay lập tức chứng minh một cách hùng hồn rằng những đề nghị của các anh không hề khả thi một chút nào.

Tuy nhiên, việc Phương Uyên và Nguyên Kha ngẩng cao đầu kiêu hãnh chấp nhận án tù giúp chúng ta « không mất hy vọng ở con người ».

Đúng vào cái ngày đen tối khi hai sinh viên đáng quý của chúng ta bị kết tội một cách phi lý, còn phi lý hơn những gì mà văn học phi lý có thể hình dung, tôi đọc được câu này của Albert Einstein, và tôi muốn chia sẻ với anh :

« Chúng ta không thể mất hy vọng ở con người, bởi vì bản thân chúng ta cũng chính là con người » (trích trong cuốn Thế giới như tôi thấy, bản tiếng Việt, tr.116)

Tôi nghĩ rằng vẫn chưa muộn để nhóm chủ trương trang Cùng Viết Hiến Pháp điều chỉnh hướng ảnh hưởng của website này đối với nhận thức của người dân; vẫn chưa muộn để các anh thể hiện thái độ và vị thế của mình một cách rõ ràng hơn trước các vấn đề của nhân dân.

GS Đàm Thanh Sơn kính mến, tôi không mất hy vọng vào những người như anh, như GS Ngô Bảo Châu, nghĩa là tôi không mất hy vọng vào chính bản thân tôi, và những người xung quanh tôi. Cho dù cái giá để trả cho niềm hy vọng ấy có thể là bằng máu, mà đôi khi máu đổ ra chỉ vì những lý do lãng xẹt như tai nạn giao thông.

Tôi nghĩ rằng vẫn còn chưa muộn, đối với tất cả chúng ta, để hành động cùng với Phương Uyên và Nguyên Kha, để sự hy sinh của các sinh viên ấy không trở nên vô ích.

Tôi viết mấy dòng này cho anh. Để chúng ta còn có thể tin tưởng lẫn nhau!

Sài gòn, ngày 19/5/2013
Kính thư,
Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi Quê Choa

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Tương Lai – Phạm tội gì đây? Ta thử hỏi: Tội Trung với nước, với dân à?

Nhân ngày 19.5

Câu thơ Hồ Chí Minh viết trong “Ngục trung nhật ký” cách nay đúng 70 năm bỗng ngân vang trong những ngày tháng Năm cháy bỏng qua lời của Phương Uyên trước tòa án Long An ngày 16.5: “Tôi yêu nước, tôi thể hiện lòng yêu nước. Tôi không ngờ tôi bị bỏ tù vì thể hiện lòng yêu nước ấy… Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, chúng tôi làm xuất phát từ tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”.

Nếu 88 năm trước, Nguyễn Ái Quốc đau đớn thốt lên: ”Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh“ [*] thì hôm nay, những Phương Uyên, Nguyên Kha, và nhiều, rất nhiều bạn đồng trang lứa với họ không còn phải “hồi sinh” mà đang dõng dạc trước vành móng ngựa những lời đanh thép, biểu hiện ý chí, trí tuệ và khí phách của thế hệ trẻ trước cường quyền và tội ác. “Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi”, lời của Nguyên Kha đã khẳng định thế thượng phong của công lý và chính nghĩa trước sự chà đạp lên pháp luật của những thủ đoạn vu khống, lừa mị và tàn ác nhưng hết sức vụng về và mong manh!

Chỉ có một điểm khác, một điểm khác đau đớn và xót xa, oái oăm và uất ức là những lời đanh thép đó không nói trước tòa án của thực dân cướp nước, lại nói với tòa án của một nhà nước nhân danh là “của dân, do dân và vì dân” mà xương máu của bao thế hệ Việt Nam cha anh của thế hệ trẻ hôm nay đã đổ ra để có nó, nhưng rồi hôm nay kết án Phương Uyên, Nguyên Kha lại là một tòa án của chế độ toàn trị phản dân chủ, phản nhân dân.

Bằng bạo lực và những công cụ quen thuộc của cường quyền nhằm khuất phục ý chí, nguyện vọng và sức phản kháng quyết liệt của tuổi trẻ, phiên tòa đáng xấu hổ ở Long An và những người giật dây cho những “rô bốt” ngồi ghế quan tòa đã không lường được bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh của hai sinh viên, một nữ, một nam tuổi đời còn rất trẻ. Có thể nói, đó cũng là bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại của nền văn minh mới với cuộc cách mạng thông tin mà chuẩn mực chính là sự thay đổi.

Không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được dòng thác của những biến động trong một thế giới không ngừng vận động mà kiểu tư duy tuyến tính tỏ ra bất lực và lạc hậu với tiến trình phi tuyến tính với những bước hợp trội nhằm tạo ra những đột phá không sao lường trước được. Sinh lực của tuổi trẻ đã đem lại cho họ khả năng nắm bắt được nhịp sống của thời đại để họ có thể vụt lớn lên, đủ sức đương đầu với mọi thử thách, đẩy tới sự phát triển của đất nước.

Hình ảnh sáng ngời của họ, tiếng nói dõng dạc của họ khác nào một tiếng sét giữa bầu trời u ám báo hiệu một cơn dông bão của lòng phẫn nộ đang dâng lên. Phẫn nộ của công luận xã hội về một bản án phi lý và bất công phơi bày đường lối sai lầm nhân danh ý thức hệ để biện hộ cho thái độ ngang ngược, xảo quyệt của Trung Quốc xâm lược. Phẫn nộ của giới trẻ tràn đầy xung lực muốn hiến dâng sức trẻ của mình cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đang bị ngăn chặn, trấn áp và khủng bố dưới nhiều hình thức đê hèn và xảo trá. Phẫn nộ của giới trí thức đang ưu tư về vận nước, hiểu rõ đất nươc đang bị tụt hậu ra sao do duy trì quá lâu một mô hình thể chế lạc hậu phản dân chủ.

Càng xấu hổ và tệ hại hơn nữa khi cáo trạng nhân danh luật pháp luận tội các sinh viên yêu nước đã “nói những điều không hay về Trung Quốc”, phơi bày quá lộ liễu sự mờ ám trong việc câu kết với kẻ thù xâm lược bằng những cam kết dại dột về “giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị” với tập đoàn hiếu chiến Bắc Kinh đang thè cái lưỡi bò ham hố và bẩn thỉu mưu toan liếm trọn Biển Đông, ngang nhiên hoành hành trên vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của tổ quốc. Trước phản biện quyết liệt của luật sư, tòa phải chống chế rằng truy tố các sinh viên không phải vì hành vi khẩu hiệu chống Trung Quốc để rồi buộc phải rút bỏ cáo buộc ê chệ và nhục nhã đó!

Trên cái nền của sự rút bỏ bất đắc dĩ cáo buộc dại dột ấy đã nổi rõ lên dòng chữ viết bằng máu của cô nữ sinh viên Phương Uyên chống Trung Quốc xâm lược. Màu máu đỏ của trái tim yêu nước của cô gái Việt Nam kiên cường và xinh đẹp ấy mạnh hơn bất cứ loại vũ khí nào. Sức vẫy gọi của khẩu hiệu viết bằng máu ấy nối liền với truyền thống quật cường của ông cha ta từng khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát” thể hiện khí phách hiên ngang trước một kẻ thù từng làm bằng địa nhiều vùng lãnh thổ từ Á sáng Âu để rồi đánh cho chúng tan tác, không chỉ một mà là ba lần trong ba thập kỷ nửa sau thế kỷ XIII. Sức vẫy gọi của khí phách ấy sẽ vượt qua mọi rào cản được dựng lên khắp nơi nhằm ngăn chặn sức lan tỏa của tinh thần yêu nước “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” như Hồ Chí Minh đã từng viết.

Và cô gái mảnh mai ấy ngẩng cao đầu trước vành móng ngựa cường quyền phản dân chủ dõng dạc nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh : “Một năm bắt đầu từ mùa xuân, con người bắt đầu từ tuổi trẻ”. Để rồi hiên ngang tuyên bố: “Tôi là sinh viên có lòng yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước”. Đấy là một lời cảnh báo đanh thép của một cô gái từng bị đọa đày trong tù ngục không thiếu những thủ đoạn xấu xa nhằm lung lạc tinh thần và hành hạ thể xác, song đã không những không gục ngã mà còn sáng suốt chỉ ra được hệ lụy của những sai lầm không thể biện hộ của bạo quyền phản dân hại nước.

Không gì mỉa mai hơn ngày cô sinh viên yêu nước dũng cảm chống xâm lược ấy ra tòa để nhận lĩnh bản án khắc nghiệt cũng là ngày bắt đầu của lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông mà nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố, một hành động ngang ngược xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc, đòi hỏi phải dấy lên mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của mỗi người Việt Nam có lương tri, đặc biệt là của thế hệ trẻ. Và có lẽ phải nói thêm: ngày này cũng là ngày người ta long trọng trao giải thưởng sáng tác “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ“, không hiểu trong những sáng tác được trao giải ấy có nhắc đến điều cốt lõi nhất phải học tập và làm theo chính là ý chí “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì chúng ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi”. Ở điểm cốt lõi này thì ai? Người vừa bị kết án tù do hành động yêu nước quyết “chiến đấu, quét sạch” quân xâm lược, hay người ngoan ngoãn chăm chút trên trang giấy những lời tụng ca quen thuộc, cần được tôn vinh?

Bản án dành cho Phương Uyên và Nguyên Kha chính là bản án đối với truyền thống dân tộc yêu nước chống ngoại xâm, cũng là bản án đối với khát vọng dân chủ và quyền con người đang là một đòi hỏi bức xúc của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của thế hệ trẻ Việt Nam. “Bản án này cho thấy sự phá sản của thành tích nhân quyền của Hà Nội. Trong khi nhà cầm quyền Việt Nam nói họ hành xử theo luật pháp và tôn trọng nhân quyền thì các bản án này chứng tỏ họ chỉ hành xử theo quyền lợi của đảng cộng sản cầm quyền, bất chấp quyền căn bản của con người bị chà đạp” như tổ chức Human Rights Watch cáo buộc.

Sự phẫn nộ dâng trào với bản án bất công, kết tội lòng yêu nước chống ngoại xâm, phản dân chủ, chà đạp lên quyền con người đang kết thành một làn sóng mà sức lan tỏa của nó sẽ vô cùng rộng lớn. Khi phong trào dân chủ gắn làm một với tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, sẽ hình thành những bước hợp trội, tạo ra những đột phá như đã nói ở trên, đẩy tới những chuyển biến không thể tiên liệu được!

Kết thúc “Ngục trung nhật ký” có câu “Sự vật vần xoay đà định sẵn, Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Quả có thế thật, nhưng hình như những ngày tháng năm nóng bỏng này lại đang báo hiệu những cơn dông!

T.L.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Thông Báo

Ngày 24/10/2010 Dân Luận bị tấn công từ chối dịch vụ (DoS) trở lại, chúng tôi buộc phải bật các cơ chế phòng thủ, khiến độc giả truy cập khó khăn hơn. Xin độc giả hãy gửi các thắc mắc và đóng góp bài vở tới địa chỉ của Ban Biên Tập tại Banbientap@danluan.org.

Chào bạn!

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.

Mến,
Ban Biên Tập Dân Luận

Bài cũ

May 2013
M T W T F S S
« Apr    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Nhập vào đây địa chỉ email của bạn để nhận được thông báo bài mới từ blog của chúng tôi mỗi ngày!

Join 117 other followers

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 117 other followers