Dân Luận

không gian mở bày tỏ quan điểm công dân

Minh Văn – Xóm Trọ

Ở thành phố thì người ta phân chia đơn vị hành chính thành Quận, thành Phường hoặc nhỏ hơn nữa là Khu Phố, chứ không ai gọi là Xóm như ở nông thôn cả. Cái tên “Xóm Trọ” là do cánh sinh viên chúng tôi nghĩ ra để gọi khu vực mà mình đang ở, vì rằng ở đây tập trung nhiều phòng trọ cho khách thuê. Nó không đủ lớn để gọi là Khu Phố, nhưng cũng đông đúc và tấp nập để có thể gọi là Xóm được. Xóm trọ dường như tập trung đủ mọi thành phần xã hội, từ bác đạp xích lô đến những người dân lao động, từ cánh sinh viên như chúng tôi đến giới công chức nghèo, còn có cả quan chức cấp cao của chế độ nữa.

Đám sinh viên thì ở quần tụ thành một dãy mà các chủ nhà xây và ngăn thành những phòng nhỏ. Vì vậy mà cũng gây nên một không khí sôi động vì sự quần cư. Nhóm bốn đứa trường Luật chúng tôi thì rủ nhau thuê được nguyên cả một tầng hai do nhà chủ để không. vì có cầu thang đi ngoài trời nên tuy rằng ở chung nhà nhưng chúng tôi cũng có được sự độc lập của riêng mình. Phòng ở tương đối rộng, lại có một khoảng sân thượng nên không gian cũng thoáng đãng và thoải mái. Nói chung, so với những phòng trọ chật chội của nhiều sinh viên khác thì như vậy cũng đã rất tốt rồi, và chúng tôi rất hài lòng, ngoại trừ vẻ mặt nghiêm trọng của bà chủ nhà mỗi khi đòi tiền nhà và tiền điện. Ban đêm rỗi rãi, chúng tôi thường mang ghế ra sân thượng ngồi tán gẫu, đôi khi bàn chuyện thế sự và chính trị. Những chậu cảnh xanh tốt đặt trên sân thượng điểm tô cho cái không khí họp bàn thêm phần trang trọng, bên cạnh những khuôn mặt đầy vẻ quan trọng của những trí thức tương lai.

Trung tâm của xóm trọ là quán nước chè của chị Tâm. Cũng có thể do địa thế và vị trí thuận tiện mà quán của chị trở thành nơi tụ họp của hầu hết thành viên trong xóm. Quán nằm ngay đường lớn và có chỗ ngồi rộng rãi cho khách. Vì thế lúc nào cũng có người ghé vào uống nước chè hoặc hút điếu thuốc, nhân tiện mà nói dăm ba câu chuyện. Mấy bác xích xô thì ghé vào tợp vài chén rượu cho giãn gân cốt, sau đó hút điếu thuốc lào rồi nhả khói mù mịt mà quên hết thế sự. Ngay cạnh quán là bãi tập kết xích lô. Có khoảng hơn chục cây Xà Cừ cổ thụ nổi u sần sùi, những chiếc xích lô được tấp dưới gốc cây, trên xe là chủ nhân đang tranh thủ nằm nghỉ trong khi chờ khách, chiếc mũ cối che hờ những khuôn mặt khắc khổ và ngái ngủ. Thường thì cuối buổi chiều là lúc tập trung đông khách nhất, lúc này thì cuộc tán gẫu trở nên rôm rả với đủ những câu chuyện được mang về từ mọi ngõ ngách của thành phố. Cánh sinh viên thì nói chuyện học đường, đôi khi khơi mào những câu chuyện thời sự chính trị. Các bác lao động, xích lô thì kể những câu chuyện mắt thấy tai nghe trong ngày, liên quan trực tiếp với cuộc sống lao động khổ cực của họ. Mấy anh công chức thì nói chuyện lương lậu, cơ quan. Nói chung, lúc này thì quán nước chè của chị Tâm đã trở thành Trung tâm Chính trị, Kinh tế và Văn hóa của cả xóm trọ.

Đối diện bên kia đường là ngôi nhà ba tầng, rộng lớn và khang trang, được xây hàng rào bảo vệ và cổng sắt kiên cố. Theo lời của bác Hồng xích lô thì đó là dinh cơ của một quan chức bộ giao thông. Mỗi khi có khách bấm chuông thì lại thấy người trông nhà ra mở cổng, tiếng chó sủa ông ổng vọng sang tận bên kia đường. Sau khi khách vào nhà thì cánh cổng sắt lại được đóng lại im lìm và lạnh lùng. Hai thế giới đối lập nhưng lại hiện diện trong cùng một khung cảnh, một bên là quán nước chè bình dân của xóm trọ và bên kia là dinh cơ của quan chức chế độ.

o0o

Với bộ dạng thất thểu, cậu Thái – sinh viên Đại học Dân lập Đông Đô – ngồi phịch xuống ghế và gọi như thường lệ:

- Chị cho em chén nước và điếu thuốc Vi Na.

Chị Tâm điềm tĩnh rót nước cho cậu ta, rồi hỏi:

- Sao hôm nay trông cậu buồn thế? Người yêu bỏ hả?

- Yêu đương gì đâu chị, đến kỳ đóng học phí mà nhà chưa gửi tiền ra đây. Không có tiền thì họ không cho thi, chắc lại phải về quê lấy tiền quá!

Nhà cậu Thái ở tận miền Trung, về nhà thì cũng xa và tốn kém, lại ảnh hưởng đến việc học ôn thi. Tuy bi đát thật, nhưng đó là tình cảnh chung của cánh sinh viên chúng tôi. Bác Hồng xích lô nghe thấy thế liền bảo:

- Các cậu là sinh viên, bây giờ khổ cực nhưng sau này làm quan lại sướng, chứ có đâu như cánh lao động chúng tôi, làm việc quần quật suốt ngày mà vẫn khổ.

Nghe nói vậy, Thái tỏ ra bức xúc:

- Sướng gì đâu bác, chỉ mấy ông quan chức tham nhũng thì sướng thôi, chứ công chức thì làm việc cả đời cũng cứ nghèo vậy. Còn lâu đất nước này mới phát triển được, quan chức cứ giàu, công chức và người dân lao động thì cứ nghèo thôi.

Chú Thắm rít điếu thuốc lào đánh sòng sọc một cái rồi nói chen vào:

- Cháu nó nói đúng đấy, tôi là minh chứng đây này, hiện tại đang thất nghiệp đây.

Chú thắm trước đây là cán bộ nhà nước, bây giờ chỉ mỗi vợ chú còn đi làm, còn chú thì thất nghiệp ở nhà đã lâu. Vì vậy chú chán nản mà lâm vào đánh lô đề, coi như là một nghề mới vậy. Khổ cho chú, cái nghề may rủi này có ai giàu được đâu, cha ông ta vẫn có câu “Cờ bạc là bác thằng bần” mà. Căn phòng cỡ hơn hai muơi mét vuông của chú chỉ để được vài ba thứ đồ đạc lặt vặt là đã chật chội rồi, nay lại bày bừa bộn giấy tờ ghi đầy những con số và lý giải giấc mơ. Có thể nói chú đã thực sự bị con ma số đề bắt mất linh hồn, chú vận dụng mọi kiến thức về âm dương bát quái, đến tất cả những cái ngẫu nhiên của sự vật hiện tượng để nghiên cứu những con số ma quái. Chính vì để hết tâm trí của mình vào số đề mà mọi hành động cử chỉ của chú Thắm đều bị nó điều khiển cả. Ngồi ở quán, chỉ cần nhìn thấy dáng đi của chú từ đàng xa là chúng tôi có thể biết được hôm nay chú được đề hay mất. Hôm nào trúng đề thì dáng đi của chú hùng dũng và nhanh nhẹn hẳn, chắc hẳn Quan Vân Trường thời Tam Quốc cũng chỉ có dáng điệu oai phong được đến thế là cùng. Ngược lại, nếu nhìn thấy dáng đi thất thểu đến tội nghiệp của chú thì biết chắc là trượt đề rồi. Tạo hóa cũng thật trớ trêu, từ khi ở xóm trọ này thì gần như ngày nào chúng tôi cũng nhìn thấy dáng đi thất thểu của chú, chỉ thấy dáng điệu oai phong đôi ba lần, nhưng đó chỉ là những lần trúng nhỏ chỉ đủ mua mấy vé số mà thôi.

Bác Hồng cụng chén với chú Thắm rồi nói trêu:

- Thì cũng tại ông thôi, không làm ông cán bộ nhà nước mà lại về nhà núp váy vợ.

- Khà! cũng tại cái nhà nước này nó không ra gì, nếu có đủ việc làm cho mình đủ sống thì đâu phải nghỉ việc. Chứ trình độ của tôi thì chấp cả mấy thằng cha tiến sĩ này nọ, chỉ là bằng cấp giả thôi. (Chú Thắm thanh minh sau khi nhắp cạn chén rượu cuốc lủi).

Bác Hồng lại cười, đùa dai:

- Thì thấy người ta giàu sang cả, chỉ mình ông nghèo khổ thôi… Lần này thì chú Thắm bực bội thật sự:

- Đó là những thằng tham nhũng, vơ vét của dân. Chứ viên chức quèn như chúng tôi lương không đủ sống thì lấy đâu mà giàu, họa có mà ăn cướp.

Vừa lúc đó thì có tiếng còi, rồi một chiếc ô tô màu đen sang trọng đỗ xịch trước cổng ngôi nhà bên cạnh, cánh cổng mở ra và chiếc xe nhanh chóng chui vào bên trong. Mọi người nhận ra đó là xe chở vị quan chức nọ, chủ nhân của ngôi nhà. Chú Thắm đặt mạnh chén rượu xuống bàn, nhìn theo chiếc ô tô, gằn giọng:

- Thật là kẻ ăn không hết, người lần không ra, chả còn công bằng gì nữa!
Anh xích lô đang nằm nghỉ trên xe, ghé chiếc mũ cối che mặt, chỉ vào ngôi nhà đối diện nói to:

- Đầy tớ của nhân dân đấy!

Rồi để bày tỏ thái độ của mình, anh duỗi thẳng đôi cẳng chân đen đúa gác lên thành xe chỉa về hướng ngôi nhà vẻ khinh bỉ.

Rồi mọi người lại quay sang bàn chủ đề khác, câu chuyện thế sự xoay quanh ngôi quán bình dị, với những thân phận mà xóm trọ đang ôm ấp trong lòng. Thành phố đã lên đèn, ánh đèn điện đỏ quạch của ngôi quán đã được bật lên, soi rõ những bóng người liêu xiêu, tội nghiệp. Bên kia đường, ngôi nhà tỏa ánh điện sáng choang với cả một hệ thống cảnh báo an ninh lúc nào cũng hoạt động, tiếng chó sủa lại vọng sang nghe oang oang.

o0o

Tối nay mấy đứa trong phòng chúng tôi lại ra sân thượng ngồi hóng mát. Mùa hè nóng nực, buổi tối khí hậu bắt đầu dịu mát bởi những cơn gió nhẹ thổi về. Cậu Chuyên người Thanh Hóa đằng hắng và bắt đầu cất giọng ồm ồm:

- Các Khanh có việc gì thì cứ tấu lên để Trẫm biết.

Chuyên là đứa tếu táo nhất trong bọn, cậu ta có lối nói nệ cổ, lại tự ví mình là vua nên lúc nào cũng xưng Trẫm với chúng tôi. Chuyên viết lên tường dòng chữ “Trẫm đã từng ở nơi đây” và ký tên bên dưới. Tưởng cũng cần nói đến nguyên nhân mà cậu ta thích lối nói nệ cổ này. Ấy là cách đây vài tháng, hôm ấy chúng tôi bàn về cấu trúc bộ máy nhà nước hiện nay (Chúng tôi học trường Luật mà). Sau khi phân tích kỹ lưỡng, mấy đứa cùng đi đến kết luận: Nhà nước hiện nay không khác nhà nước Phong kiến là mấy, về bản chất là như nhau. Cả hai chế độ đều độc quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khác là chế độ Phong kiến chỉ có một ông vua, còn bây giờ là vua tập thể (Bộ Chính trị). Và điểm khác biệt nữa là tính Cộng sản chủ nghĩa, vì vậy mà thời bấy giờ còn tồi tệ hơn Phong kiến ngày xưa. Là người tếu táo nhất, nên cậu Chuyên thích thú với nhận định này của cả bọn lắm, vì thế mà từ đó cậu ta luôn xưng Trẫm trong khi nói chuyện để cho giống với thời Phong kiến.

Tiếp lời mở màn của Chuyên, cậu Thanh đưa ra mệnh đề:

- Hiến Pháp Việt Nam có quy định: “Đảng Cộng sản đại diện cho giai cấp nông dân, công nhân, tầng lớp trí thức và toàn thể dân tộc”. Đúng hay sai?

Tôi trả lời ngay:

- Sai quá đi chứ, đúng thế nào được!

Chuyên nói:

- Hãy chứng minh!

Tôi phân tích:

- Thứ nhất, một đảng phái chỉ có thể đại diện cho những tầng lớp nhất định, không thể đại diện cho toàn thể dân tộc được. Điều đó trái với quy luật tự nhiên và là điều không tưởng. Chưa kể ngày trước Đảng Cộng sản tuyên bố là đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, gạt bỏ vai trò của tầng lớp trí thức. Vì vậy mà mâu thuẫn với quá khứ. Trừ khi đảng Cộng sản từ bỏ vai trò lãnh đạo hoặc thừa nhận sai lầm của mình. Chuyên vỗ đùi đánh đét một cái và phán:

- Khá, khá lắm! Trẫm cho 10 điểm.

Phong – thành viên còn lại của nhóm – từ tốn nói:

- Thì cứ nhìn các bác lao động trong xóm trọ mình thì biết, họ lao động quần quật cả ngày có đủ sống đâu. Thế thì việc nhà nước tuyên bố nhân dân lao động là lực lượng lãnh đạo đất nước là không thật lòng, nếu không muốn nói là mị dân là lừa dối.

Chuyên nói, giọng nghiêm trang:

- Trẫm đồng ý, Thanh có ý kiến gì nữa không?

- Thì từ xưa đến nay, thành phần trí thức vẫn lãnh đạo xã hội mà. Đó vốn là một quy luật tự nhiên. Điều quan trọng của một xã hội Dân chủ là người nào cũng được lựa chọn công việc phù hợp với khả năng của mình, mỗi người đều có một vai trò riêng và có giá trị tương hỗ. Chứ không phải làm cách mạng là cứ đảo ngược vai trò mọi thứ trong xã hội, điều mà đảng Cộng sản đã làm trước đây.

Tôi nói:

- Đúng vậy!

Như thường lệ, Chuyên lại là người kết luận:

- E hèm! Như vậy Trẫm sẽ kết luận: Mệnh đề mà Thanh nêu ra là sai. Điều đó đồng nghĩa với việc Điều 4 Hiến pháp năm 1992 là không đúng!

Cả bọn cùng vui vẻ với nhận định của mình. Chuyên cầm bao thuốc lá toan rút một điếu để hút, phát hiện ra không còn điếu nào, cậu ta liền nhìn Thanh và phán:

- Trẫm truyền cho Thanh đi ra quán chị Tâm mua bao thuốc lá, để cả bọn còn tiếp tục mạn đàm!

Thanh ngoan ngoãn làm theo mệnh lệnh, cậu ta lui cui bước xuống lầu sau khi đã nhận tiền từ tay vị Hoàng Đế tự phong.

Từ trên sân thượng, chúng tôi có thể nhìn thấy quán chị Tâm vẫn đang đỏ đèn. Vì từ nhà ra đến quán chị cũng chỉ mất mấy phút đi bộ. Vậy là một ngày như bao ngày cũng sắp trôi qua, rồi ngày mai chúng tôi lại tiếp tục đi học. Các thành viên của xóm trọ thì người nào lại làm công việc của người nấy như thường lệ, và những câu chuyện lại tiếp diễn như cuộc sống vốn vẫn vậy. Xóm trọ vẫn là nơi chở che và ôm ấp những mảnh đời và số phận con người giữa cái xã hội đầy bấp bênh và trắc trở này.

03.6.2012

Minh Văn

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Đào Tuấn – Quyền của cái miệng

hoakhoi.jpg?w=300&h=200

Luật Biểu tình cuối cùng vẫn là dự án luật gây tranh cãi nhất trong chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Và lần này, thay cho phát ngôn nổi tiếng “Biểu tình là sự ô danh”, thì “Chủ nghĩa xã hội” được đưa ra như một lý do chính để bác bỏ dự án luật này.

“Nước ta là nước Xã hội chủ nghĩa, chưa nói tới biểu tình, để cho quần chúng nhân dân đi ăn xin giữa đường đã là không được”- Đây là phát biểu của ĐBQH Đắk Lắk, ông Niê Thuật.

Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả. Hơn nữa, cũng cần phải nói là có nhiều cách để xóa bỏ tình trạng “ăn xin giữa đường” thay cho biện pháp hành chính là cấm, là bắt, là trả về địa phương, là đưa đi trại bảo trợ xã hội. Mà cách hữu hiệu nhất là chính quyền cho họ một cái cần câu cơm để tự họ có một cuộc sống “có cái để cho vào miệng”. Ông Niê Thuật là Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, là quan đầu tỉnh, chắc hẳn ông quá hiểu chuyện đó. Vì thế, sự “được” hay “không được” không quyết định bởi những người vô nghề nghiệp, đang đói rã họng phải lê lết đi xin ăn ngoài phố, mà ở trách nhiệm của các bậc phụ mẫu với nhân dân của mình. Ước mơ giản dị của cụ Hồ “Ai cũng có cơm ăn áo mặc” từ ngày lập nước đến giờ đã mấy chục năm, xem ra vẫn còn là một mục tiêu cần phấn đấu.

Thế đấy, dù xã hội chủ nghĩa là tươi đẹp, là ưu việt, vẫn có những người phải ăn mày thiên hạ. Nhưng ngay cả khi nhân dân đã no ấm đến mức không còn người ăn xin, không còn hàng trăm ngàn người thiếu đói mỗi tháng thì chế độ xã hội cũng không phải là lý do để bác đi một trong những quyền cơ bản nhất của công dân đã được ghi trong Hiến pháp. Thưa ông Niê Thuật, một xã hội có những vấn đề – ăn xin chẳng hạn, thì cái đáng sửa, là cái cách xã hội đó đối xử để người dân không phải ăn xin, chứ không phải mặc áo đạo đức nói nó không có “ăn xin”, hoặc không chấp nhận “ăn xin” là vấn đề xã hội.

Còn nhớ tháng 11 năm ngoái, với tư cách là người có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ đã nói một cách rất giản dị rằng một dự án luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình là cần thiết vì thực tế đang đòi hỏi và bởi Luật Biểu tình là thực hiện theo Hiến pháp, với quy định công dân dược biểu tình. Chính phủ chấp nhận Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ thậm chí là người có sáng kiến xây dựng Luật, dù có thể các cuộc biểu tình sẽ là nơi nhân dân tỏ thái độ, hoặc ủng hộ, hoặc chưa ủng hộ với Chính phủ. Vậy thì can cớ gì mà một đại biểu dân cử lại không chấp nhận quyền hiến định của dân?

Phát biểu trước nghị trường ngày hôm qua, ĐBQH Trương Trọng Nghĩa, người từng coi Luật biểu tình là một “món nợ” của nhà nước đối với nhân dân, tiếp tục yêu cầu đưa Luật Biểu tình vào chương trình xây dựng luật. Bởi theo ông: “Một bên người dân có quyền hiến định, một bên là tình trạng thả nổi sẽ làm phát sinh xung đột, sự cố bất lợi nhiều mặt, kể cả uy tín của Nhà nước và thậm chí là thể diện quốc gia”. Ông gọi những người từng biểu tình là “bà con”: “Rất nhiều trường hợp biểu tình là do liên quan tới đất đai, vì không có hành lang pháp lý nên cách làm của bà con không theo mô hình nào cả, không có tư vấn nên dễ bị kẻ xấu xúi bẩy, gây ra nhiều hành vi phản cảm”. Và “Luật biểu tình sẽ đưa tình trạng này vào nề nếp, nhiều ngòi nổ sẽ được tháo bỏ kịp thời trước khi vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn. Hy vọng khi có luật, các vụ biểu tình sẽ giảm bớt với mức độ sẽ bớt nghiêm trọng hơn”.

Không có Luật biểu tình vẫn có những cuộc biểu tình, dù đó là bất hợp pháp. Có Luật Biểu tình, có nghĩa là sẽ có biểu tình. Nhưng một đất nước có những cuộc biểu tình hợp pháp thì đó không phải là sự “ô danh” khi cùng với quyền được nhai, cái miệng còn có quyền được nói.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Ngọc Già – Đàn áp có cần văn hóa không?!

Bà Aun Sang Suu Kyi đã được tạp chí Forbes xếp hạng 47 trong 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới vào năm 2006 (1). Bà cũng được xem như là người góp phần vô cùng lớn lao cho cuộc đổi thay tốt đẹp Miến Điện hiện nay với những bước đi thận trọng nhưng không kém phần khéo léo và dứt khoát.

Đổi thay từ Miến Điện trong những tháng gần đây càng trở thành biểu tượng đấu tranh bất bạo động thành công từ Daw Aun Sang Suu Kyi – biểu tượng Hòa Bình không chỉ cho người Miến Điện.

Hai bài viết của nhà báo Huỳnh Thục Vy (2) và tác giả Nguyễn Thanh Sơn (3) đã khơi gợi lại cho tôi về “lãnh tụ” – tác nhân quan trọng cho cuộc cách mạng (có thể nói) ở những xứ sở bị coi là “dân trí thấp”. Hình như ở những xứ sở như vậy, yếu tố “lãnh tụ” vẫn còn cần thiết lắm cho cuộc cách mạng thành công? Đó là câu hỏi cần đặt lại một cách nghiêm túc.

Cả hai bài viết của hai tác giả nói trên càng chứng tỏ văn hóa, đạo đức kể cả yếu tố Tôn giáo thuần khiết là vô cùng quan trọng cho cuộc đấu tranh.

Độc giả “Nhẫn” có viết:

Nhẫn (khách viếng thăm) gửi lúc 23:50, 02/06/2012 – mã số 59649

Trong khi tại Việt Nam, mới thấy ông CHHV bị bắt, mới thấy bà Lê Hiền Đức bị nhốt… đám “rân chủ” đã cảm thấy uất ức cùng cực, nhưng đáng tiếc lại bất lực không làm gì được, cuối cùng chỉ còn biết lên mạng nhảy chồm chồm chửi rủa ầm ĩ như bọn thất học. Các bạn “rân chủ” Bolsa còn hoành tráng hơn, la hét thúc giục với khí thế hừng hực, hét vào mặt người dân trong nước vùng lên, vùng lên, lật đổ đi, lật đổ đi, còn chịu đựng đến bao giờ…

Hãy nhìn cách nhẫn nhịn và cách đấu tranh của người ta mà học tập nhé, các bạn “rân chủ” nửa mùa. Nếu có đủ sự điềm tĩnh, ung dung, thư thái trước công an, bạo lực, nhà tù thì hãy nói chuyện Dân Chủ.

P/S: Bài không áp dụng cho các nhà Dân Chủ chân chính.

Tuy vậy, câu hỏi cần đặt ra, đó có phải là suy nghĩ một chiều thiếu công bằng khi tôi đặt cho bài viết này tựa đề “Đàn áp có cần văn hóa không?”.

Xem lại tiểu sử sơ lược của bà Aun Sang Suu Kyi từ trang wikipedia, cho thấy bà chịu quản thúc tại gia trong thời gian dài, kìm tỏa và cấm ngặt mọi giao tiếp với xã hội. Bà đã bị kết tội cùng với hai người hầu trong việc nhà báo John Yettaw lội ngang hồ Inya để xin tá túc nhà bà vì kiệt sức. Sự việc đã gây ồn ào trên thế giới, sau đó một số nhân viên ngoại giao của Nga, Thái Lan và Singapore được vào gặp bà Suu Kyi. Chi tiết này cho thấy dù bà bị quản thúc nhưng hình như không gian sống tương đối tiện nghi, sự quan tâm của thế giới dành cho bà khá đặc biệt, quan trọng nhất: giới cầm quyền Miến Điện đàn áp bà Aun Sang Suu Kyi vẫn đạt mức văn hóa (cần có) bất chấp Miến Điện còn nghèo nàn hơn Việt Nam.

“Giấy rách phải giữ lấy lề”.

Những hành vi đàn áp của phía cầm quyền Việt Nam đối với các nhà bất đồng chính kiến thật khó hình dung được đó là “chính quyền”, những tưởng không cần dẫn ra chi tiết. Vì lẽ đó, tôi đồng ý với nhà báo Huỳnh Thục Vy:

Trái lại, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, văn hóa, đạo đức và các truyền thống tôn giáo tốt đẹp đã gần như bị hủy hoại tận gốc rễ. Một xã hội hiện đại nửa mùa, một nền văn hóa mới theo kiểu Tây phương chưa xây dựng được (mà chỉ bắt chước người ta những thói xấu), còn cội nguồn văn hóa truyền thống thì đã biến thái thành những thứ quái dị. Những nhân đức hiền lành, chất phác, lòng yêu nước thiết tha biến thành những mánh mung, lừa đảo, vị kỷ. Một tôn giáo truyền thống từng góp phần to lớn xây dựng nên khí chất Việt Nam, bây giờ đã trở thành một thứ mê tín dị đoan.

Chúng tôi không nghĩ giới cầm quyền sẽ xót thương, ban bố cho những ai đang đấu tranh vì dân, vì nước. Chúng tôi cần văn hóa ứng xử. Dù đàn áp khốc liệt và hà khắc nhất, nhưng hãy có văn hóa – tôi gọi “văn hóa đàn áp”.

Khi có bất kỳ một nhân vật nào đó vừa nổi lên như là những người đấu tranh cho dân, cho nước một cách thực tâm đều bị vùi dập ngay lập tức, điều đáng tiếc là vùi dập một cách quá kém về văn hóa. Phía cầm quyền khó thể chối cãi trong việc cố tình phá nát hình ảnh một cách vô văn hóa như thế bởi những “nhà báo” vô lương tâm tiếp tay như Hồ Thu Hồng, Quý Thanh, Nguyễn Văn Minh v.v… Đó có thể gọi là tội ác?

Những họng súng chĩa thẳng vào mình, có sợ không? Có. Còng số tám, dùi cui, nhà tù, có sợ không? Có. Nhưng điều chúng tôi sợ nhất, mà không, chúng tôi ghê tởm nhất, chính là “văn hóa đàn áp”. Nó đã ngày càng trở nên ghê rợn như người Việt Nam đang sống giữa rừng già thâm u – nơi “ánh sáng văn hóa” chưa bao giờ rọi tới!

Giới cầm quyền có hiểu, nó – “văn hóa đàn áp” – không chỉ riêng cho chúng tôi, cho giới cầm quyền, mà trên hết cho nhân cách Người Việt Nam. Chúng tôi sợ nhất, bởi thế giới sẽ không dùng lời mạt sát nào cả mà có thể họ nhìn người Việt Nam như là những sản phẩm thiếu hoàn chỉnh do tạo hóa vô ý làm ra. Người Việt Nam không đáng bị xem như là một sản phẩm tật nguyền tinh thần như thế.

Đó là ý nghĩa dành cho giới cầm quyền Việt Nam hiện nay. Nếu tiếp tục đàn áp chúng tôi thì hãy cho chúng tôi thấy giới cầm quyền còn có Văn Hóa!

Nguyễn Ngọc Già
_______________

http://vi.wikipedia.org/wiki/Aung_San_Suu_Kyi (1)

http://danluan.org/node/12799 (2)

http://danluan.org/node/12816 (3)

P/s: bản thân tôi, trong những ngày tập tễnh viết đầu tiên, giờ xem lại, tôi thấy cũng có văn hóa tối thiểu cần có của người cầm bút. Tôi gọi ông Nguyễn Tấn Dũng là “ngài” một cách thực tâm, trong bài viết về việc giải thể IDS http://danluan.org/node/2954, viết cho tù nhân lương tâm http://danluan.org/node/4977, viết cho những người bạn trong phong trào HS – TS – VN http://danluan.org/node/4707 và nhiều bài khác. Tuy vậy, sau này tôi thấy mình ngày càng cộc cằn hơn. Do ai? chắc chắn do tôi, và chẳng lẽ chỉ do tôi thôi sao?

Lòng vị tha như Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết về bà Aun Sang Suu Kyi là rất đáng suy nghĩ. Vậy, xin hỏi, lòng vị tha được nuôi dưỡng không phải bởi từ văn hóa sao?

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm cảng Cam Ranh

VietNamNet – Trong lịch trình hoạt động đầu tiên trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, hôm nay 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đến thăm cảng Cam Ranh, Khánh Hòa.

Ông Panetta là quan chức quân sự cao cấp nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thăm lại nơi đã từng là căn cứ quân sự hải quân – không quân của Mỹ.

20120603121556_My%20cut.jpg

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta

Ông sẽ ghé thăm USNS Richard E. Byrd – tàu thuộc Bộ Tư lệnh Hải vận Quân sự Mỹ, đang được sửa chữa tại xưởng đóng tàu Cam Ranh. Đây là tàu vận chuyển hàng hóa tới các lực lượng quân sự Mỹ trên khắp thế giới.

Trưa nay, ngay tại cảng Cam Ranh, Bộ trưởng Panetta có cuộc họp báo với báo chí.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sau khi thăm cảng Cam Ranh sẽ đến Hà Nội và có cuộc hội đàm với người đồng cấp Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh. Ông cũng sẽ có các cuộc gặp với lãnh đạo Chính phủ Việt Nam.

Phát ngôn viên quốc phòng Mỹ cho hay Mỹ cam kết lâu dài trong việc đẩy mạnh quan hệ quốc phòng song phương với Việt Nam, dựa trên sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau. Chuyến thăm của Bộ trưởng Panetta sẽ giúp Mỹ có cơ hội được tiếp tục hợp tác dựa trên mối quan hệ trọng yếu này.

Trao đổi với VietNamNet về chuyến thăm, Đại tướng Phùng Quang Thanh cho hay ông và người đồng cấp Mỹ sẽ thảo luận về hợp tác quốc phòng song phương vốn đang trên đà có những bước phát triển tích cực.

Dự kiến, tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, hai bên sẽ đề cập đến 5 lĩnh vực hợp tác chủ chốt hiện nay: thiết lập các cơ chế đối thoại thường xuyên cấp cao giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và Bộ Quốc phòng Việt Nam, an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Và các hoạt động về hợp tác đào tạo quân y.

Một trong những lĩnh vực Mỹ chú trọng đó là tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh (MIA), cũng sẽ được trao đổi trong cuộc hội đàm chung giữa hai Bộ trưởng.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ hy vọng thúc đẩy những nỗ lực hợp tác về MIA. Hiện Mỹ có 6 đội tìm kiếm và hai nhóm chuyên gia đang làm việc cùng phía Việt Nam.

Hoạt động trao đổi thăm song phương giữa lãnh đạo Bộ quốc phòng hai nước diễn ra ngay sau khi Bộ trưởng Phùng Quang Thanh và Bộ trưởng Leon Panetta vừa dự Đối thoại Shangri La tại Singapore.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nói với VietNamNet rằng dự kiến không có thỏa thuận nào được ký kết trong chuyến thăm mà trọng tâm hai bên rà soát triển khai các lĩnh vực hợp tác như đã thỏa thuận.

Chuyến thăm của Bộ trưởng Panetta mang nhiều ý nghĩa biểu tượng cho thấy quan hệ quốc phòng giữa hai nước từng là cựu thù đang có những bước tiến tích cực.

Vài hình ảnh của Bộ trưởng Panetta sáng nay ở cảng Cam Ranh:

20120603143755_PSN1.jpg20120603143755_PSN2.jpg20120603143755_PSN3.jpg20120603142457_My-1.jpg20120603142457_My-2.jpg20120603142457_My-3.jpg20120603142515_My-5.jpg20120603142515_My-6.jpg

Linh Thư

Ảnh: Phan Sông Ngân – Vic Chic

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Thái Linh – Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ cuối)

ImageHandlerLarge.ashx?width=190&height=250&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fChinhtrixahoi%2f&fileName=truong+sa+hoang+sa.jpg&portalid=0&i=4403&q=1

Philippines, Malaysia và Brunei đều có luận thuyết riêng trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất.

III. Luận thuyết của các nước khác

1) Luận thuyết của Philippines

Philippines có yêu sách đối với khoảng 60 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa. (1) Yêu sách đầu tiên được Thomas Cloma, một công dân Philippines, đưa ra vào năm 1947 khi ông tuyên bố phát hiện ra một nhóm đảo, đá nằm cách bờ Tây đảo Palawan 300 hải lý.

Ngày 17.5.1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo của quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines. Tuyên bố này đã bị các nước có liên quan phản đối.

Mãi đến tháng 3.1956, Thomas Cloma mới tiếp tục việc “phát hiện” nhóm đảo này. Ông cử một nhóm 40 thủy thủ đổ bộ lên các đảo của quần đảo Trường Sa với mục đích tiến hành chiếm hữu chính thức. Họ cắm cờ Philippines lên một số đảo, trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba) (2). Ngày 11.5.1956, họ tuyên bố các đảo họ đã chiếm đóng được đặt tên là Kalayaan (Đất Tự do), còn Thomas Cloma tự phong mình là Chủ tịch Hội đồng Tối cao Nhà nước Kalayaan (3). Tuyên bố này đã bị các nước liên quan phản đối. (4)

Ngày 15.5.1956, Thomas Cloma gửi thư cho bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Philippines thông báo về việc chiếm giữ vùng lãnh thổ rộng 64.976 dặm vuông ở phía Tây Palawan, nằm ngoài các vùng nước của Philippines và không thuộc quyền tài phán của bất cứ nước nào và yêu sách chiếm hữu vùng lãnh thổ này dựa trên quyền phát hiện và chiếm đóng, đồng thời gửi kèm theo bản đồ. Tuy tên của các đảo bị thay đổi hoàn toàn, nhưng bản đồ cho thấy Kalayaan bao gồm phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. (5)

Trong họp báo ngày 19.5.1956, bộ trưởng ngoại giao Philippines khẳng định rằng nhóm đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa phải thuộc chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Sài Gòn, Bắc Kinh và Đài Loan đều phản đối tuyên bố này. Đài Loan có ý định cử thủy quân đến Trường Sa. Manila lập tức thông báo với Đài Loan và Việt Nam rằng Philippines chưa có yêu sách chính thức về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này.

Ngày 6.7.1956, Thomas Cloma lại gửi thư cho yêu cầu chính phủ Philippines cho Kalayaan được hưởng chế độ bảo hộ. Trong công văn trả lời T. Cloma, bộ trưởng ngoại giao Philippines cho rằng ngoài nhóm 7 đảo mà quốc tế gọi là Trường Sa (Spratly), các đảo khác đều là lãnh thổ vô chủ (terra nulius), do đó mọi công dân Philippines cũng như công dân các nước khác đều có quyền tự do khai thác kinh tế và định cư.

Đáp trả “sự kiện T. Cloma”, Việt Nam đã cử tàu tuần tra đến quần đảo Trường Sa vào tháng 8.1956.

Ngày 1.10.1956 xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa hải quân Đài Loan và nhóm người của T. Cloma ở North Danger Shoal. Người của T. Cloma bị tịch thu hết vũ khí. Chính phủ Philippines hoàn toàn không can thiệp.

Vào thời kỳ 1970-1971, các đơn vị thủy quân Philippines theo lệnh của tổng thống F. Marcos đã chiếm một số đảo của Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn và South Rock. Philippines cũng tổ chức tuần tra trên một loạt đảo và đá nhỏ ở phía Đông Bắc quần đảo. (6) Năm 1971, Philippines một lần nữa cố chiếm đảo Ba Bình nhưng thất bại. Chính quyền Philippines phản đối sự chiếm đóng của Đài Loan với các lý do: a) Philippines có danh nghĩa chủ quyền dựa trên sự phát hiện của T.Cloma; b) Trung Quốc chiếm đóng de facto một số đảo nằm dưới sự kiểm soát của các nước đồng minh mà không cho các nước này được biết; c) nhóm đảo Trường Sa nằm trong vùng nước quần đảo của Philippines (7). Cùng với sự phản đối, Philippines tăng cường quân số trên các đảo lên 1.000 người. Một sân bay đã được xây dựng trên đảo Thị Tứ.

Năm 1974 Thomas Cloma chuyển giao “chủ quyền” Kalayaan cho chính phủ Philippines. Đến thời điểm này, Philippines kiểm soát 4 đảo. (8)

Năm 1978, Philippines đặt quân đội trên 7 đảo của Trường Sa. Ngày 11.6.1978, tổng thống Philippines sát nhập 7 đảo này vào lãnh thổ Philippines bằng sắc lệnh số 15969, sắc lệnh này đồng thời khẳng định các đảo này “về mặt pháp lý không thuộc bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, giờ đây phải thuộc về Philippines và nằm dưới quyền tài phán của Philippines nhờ sự chiếm cứ và quản lý hiệu quả theo đúng luật quốc tế”. Sắc lệnh cũng quy định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo này. (10)

Ngày 14.9.1979, tổng thống Philippines tuyên bố rõ Philippines sẽ tiếp tục yêu sách chủ quyền đối với 7 đảo họ đang chiếm đóng chứ không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa. Trong cuộc họp báo này, tổng thống Philippines nhắc lại nhóm 7 đảo này là vùng lãnh thổ chưa có người chiếm đóng, chưa được biết đến và chưa có người ở, thậm chí chưa được đánh dấu trên các bản đồ trước Thế chiến II, và Philippines chiếm cứ chúng như lãnh thổ vô chủ (terra nullius).

Ngày 10.3.2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9.522 về đường cơ sở, đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines. Hành động này của Philippines lập tức bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối.

Luận thuyết của Philippines không vững vàng ở chỗ nước này cho rằng các đảo mà mình chiếm giữ là lãnh thổ vô chủ và chưa được biết đến, nhưng trên thực tế, chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay cả khi bỏ qua các giai đoạn lịch sử xa xưa, quần đảo này đã được Pháp chiếm cứ hữu hiệu từ những năm 1930 (quân đội Pháp có mặt trên đảo Thị Tứ từ tháng 4.1933) và sau đó trao lại cho Việt Nam khi Pháp rời khỏi Đông Dương mà không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía các nước, trong đó có Philippines. Luật quốc tế cũng không quy định một lãnh thổ phải thuộc về một quốc gia chỉ vì nằm gần quốc gia đó nhất. Ngoài ra, việc chiếm đóng và các yêu sách của Philippines đối với nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay từ ban đầu luôn gặp sự phản đối từ phía các nước khác có liên quan, do đó khó lòng có thể nói đến một sự chiếm cứ hiệu quả và không có tranh chấp theo đúng các nguyên tắc của luật quốc tế.

2) Luận thuyết của Malaysia

Năm 1978, Malaysia đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo An Bang, Đá Kỳ Vân và đá Công Đo dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa.

Năm 1979, Malaysia công bố bản đồ trong đó một số đảo của Trường Sa được đánh dấu là lãnh thổ Malaysia.

Tháng 6.1983, Malaysia chiếm đóng quân sự đảo đầu tiên -
Đá Hoa Lau – trong khu vực yêu sách. Tháng 9.1983, Malaysia chính thức tuyên bố nước này quyết định chiếm cứ bãi san hô ngầm James Schoal, Đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, Đá Kỳ Vân và khẳng định các đảo này nằm trong vùng được gọi là “vùng kinh tế biển” của Malaysia. Tháng 12.1986, quân đội Malaysia (11) chiếm đảo Đá Kỳ Vân và Kiêu Ngựa.

Tháng 6.1999, Malaysia mở rộng chiếm đóng ra Đá Én Ca và bãi Thám Hiểm, nâng tổng số các đảo bãi chiếm đóng của mình ở quần đảo Trường Sa lên bảy đảo, bãi.

Luận thuyết của Malaysia dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa. Tuy nhiên, điều 76 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ghi rõ: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biểnlòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”, hoàn toàn không liên quan đến các đảo, đá nổi lên mặt biển trong vùng thềm lục địa. Luận thuyết của Malaysia hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.

3) Luận thuyết của Brunei

Brunei chỉ yêu sách chủ quyền đối với đảo Louisa Reef, với luận thuyết đảo này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Brunei. Tuy nhiên, Công ước LHQ về Luật Biển 1982 chỉ công nhận quốc gia ven bờ có “chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió”, quyền tài phán trong việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị về công trình, quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học biển cũng như bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (điều 56). Việc yêu sách chủ quyền đối với các đảo chỉ vì chúng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế là một diễn giải sai lệch các quy định của Công ước. Do đó, luận thuyết của Brunei, tương tự như trường hợp Malaysia, là thiếu thuyết phục và không có cơ sở.

Ở đây, một câu hỏi có thể nảy sinh là: Louisa Reef có phải là một đảo theo qui định của luật quốc tế hay không? Bởi một quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền và thụ đắc chủ quyền đối với đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước). Nếu Louisa Reef là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, Brunei và các nước khác đều không thể yêu sách chủ quyền (12). Khi đó nó sẽ là một phần vùng đặc quyền kinh tế mà Brunei có thể có các quyền giới hạn như đã nêu trên. Trong trường hợp này, một vấn đề nữa sẽ phải đặt ra là vùng đặc quyền kinh tế của Brunei có chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Malaysia đòi hỏi hay không.

IV. Kết luận

Những phân tích trên đây cho thấy trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thực tế tranh chấp dai dẳng và phức tạp cũng như ý muốn của các bên khiến việc giải quyết tranh chấp bằng con đường pháp lý hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa, tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì tính chất phức tạp của nó, đòi hỏi một giải pháp tổng thể với các yếu tố pháp lý, lịch sử, chính trị, kinh tế. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, yếu tố pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông cần rất nhiều nỗ lực và thiện chí của các bên liên quan, đặc biệt là Trung Quốc, nước luôn phản đối việc đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án quốc tế bất chấp nhiều lần đề nghị của Việt Nam.

Nguyễn Thái Linh
____________________

Chú thích:

1. Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994), tr.111

2. Quốc Tuấn, “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoaliên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975

3. Jan Rowinski, sđd

4. Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994, trang 62

5. Samuels Marwyn S., sđd

6. Jan Rowiński, sđd

7. Lee G. Cordner, sđd

8. International Herald Tribune, số ngày 28.3.1974

9. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

10. Lee G. Cordner, sđd

11. Jan Rowiński, sđd

12. Xem các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp giữa Quatar và Barhan (http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7029.pdf ) và chủ quyền đói với đảo South Ledge trong tranh chấp giữa Malaysia và Singapore (http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14506.pdf )

Tài liệu tham khảo:

1. Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.

2. Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế, sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988

3. Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay, Moscow, 1982

4. Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit international, vol.21, 1975

5. Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998

6. Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press nr.7574, ngày 27.11.1971

7. Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa, 1990

8. Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982

9. Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật Kinh tế biển Monaco, 2000

10. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

11. Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, tạp chí mạng Talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302)

12. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

13. Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981

14. Dương Danh Huy, “Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai quốc gia Việt Nam trên hai miền Bắc, Nam”, trang web Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ngày 9.11.2011 (http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1288-trong-chin-tranh-54-75-co-mt-hay-hai-quc-gia-tren-hai-min-bc-nam )

15. Từ Đặng Minh Thu, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.

16. Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994)

17. Quốc Tuấn, “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975

18. Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

19. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Trương Nhân Tuấn – Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

Đôi lời giới thiệu về tác giả Trương Nhân Tuấn:

danluan_00290.jpgÔng Trương Nhân Tuấn (Ngô Quốc Dũng)

Ông Trương Nhân Tuấn tên thật là Ngô Quốc Dũng, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1956 tại Bạc Liêu. Năm 1974 đã đậu chứng chỉ căn bản về Khoa học (MPC) tại Đại học Khoa học Sàigòn. Việc miền Nam sụp đổ năm 1975 khiến ông phải bỏ học một thời gian. Năm 1980 ông qua Pháp, vừa đi làm vừa học lại, lấy được bằng Cao học về Toán và Vật lý. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu về chủ quyền biên giới lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.

Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa. Do đó họ chủ trương sử dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm nốt nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc sẽ không ngừng ở Hoàng Sa. Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển tại đây.

Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hành động phản đối gọi là “kịch liệt” lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam “thi hành”, như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa lại bị Trung Quốc đe dọa trầm trọng.

Trong các năm vừa qua Việt Nam đã đảm nhận những vai trò quan trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ do đó không phải là thiếu. Tại sao Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? không đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc? Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về lãnh đạo của đảng CSVN.

Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài”. Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi “cướp chính quyền từ tay Pháp, Nhật”, lập được nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1949, cho đến năm 1975 “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”, gồm thu đất nước về một mối “Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, thì chưa bao giờ củng cố hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi chính đáng đặt ra: Tại sao Việt Nam không đề nghị một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông, ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị trong quá khứ?

Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ Trung Quốc xâm lấn bãi Tư Chính.

Tháng 5 năm 1992, phía Trung Quốc ký hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc “vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc”. Khu vực này cách bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

Lý lẽ của Trung Quốc như thế phải hiểu: 1/ Trung Quốc có chủ quyền tại Trường Sa. 2/ Các đảo Trường Sa có hiệu lực là “đảo”3/ vùng Tư Chính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? với các đảo Trường Sa.

Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington phụ trách bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Hồ sơ bãi Tư Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp thành lập, mang tên: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Lập luận của hồ sơ này là: 1/ bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, 2/ các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của “đảo” theo luật Biển 1982 và 3/ vì vậy không hề có chồng lấn giữa các đảo Trường Sa với thềm lục địa Việt Nam.

Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là: 1/ không xác định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo Trường Sa, không phản đối chủ quyền của Trung Quốc ở các đảo TS, điều này có thể hiểu ngầm Việt Nam đồng ý Trung Quốc có chủ quyền tại các đảo này. 2/ Các đảo TS quá nhỏ để có hiệu lực của “đảo”. Lý lẽ này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏ của một đảo không hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu lực hay không là do hai việc: a) có thích hợp cho người sinh sống và b) có một nền kinh tế tự túc.

Tại sao phía Việt Nam chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư trong hồ sơ “Tư Chính” mà không hề có bảo lưu về chủ quyền của Việt Nam tại TS?

Lý ra, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ : 1/ khu vực Tư chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam (theo qui định 200 hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982. 2/ Chủ quyền các đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thực ra là Trường Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam. 3/ Không hề có việc “chồng lấn” hiệu lực giữa các đảo “Nam Sa” với thềm lục địa Việt Nam, đơn giản vì các đảo Trường Sa, mà Trung Quốc tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về Việt Nam.

Mấy ông luật sư của Hoa Kỳ trong tổ hợp Covington & Burling ở Washington đã “không ngu” như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa vào hồ sơ thì phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là phải chứng minh Việt Nam có chủ quyền tại các đảo này. Làm việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

Đó là 1/ tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên bố hải phận của Trung Quốc. 2/ Sự im lặng của miền Bắc Việt Nam năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng các đảo Hoàng Sa. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành động của Trung Quốc là chánh đáng, Trung Quốc có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bố qua báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi ám thị đồng thuận khác.

Trong khi việc “kế thừa” di sản Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực hiện.

Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra các lý lẽ chứng minh.
Phía CS miền Bắc gọi VNCH là “ngụy”, tức là giả, không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu có tư cách “thừa kế”, thì theo bộ luật về “kế thừa” của VN hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị truất quyền “kế thừa” theo điều 643, khoản a và b.

Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bị xem là “văn hóa đồi trụy”, đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bị khinh miệt gọi là “lính ngụy”, chính quyền miền Nam là “ngụy quyền”, thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi là “ngụy dân”. Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở miền Nam không được đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.

Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã “ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm” của người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi “kế thừa” di sản VNCH ngày hôm nay?

Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Các lý lẽ của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ: 1/ các đảo Trường Sa và Hoàng Sa quá nhỏ để có hiệu lực của đảo. 2/ Khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và thềm lục địa của luật Biển 1982).

Đối với họ chỉ có hai chọn lựa: Việt Nam mất ít hay mất nhiều. Họ chọn giải pháp “mất ít”.

Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó không thể đứng trên căn bản “Việt Nam có chủ quyền tại Hoàng Sa và TS” để lập hồ sơ mà phải dựa trên lập luận “các đảo Trường Sa và các đảo nhỏ, không thể có ZEE”.

Như thế, đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, Hoàng Sa và Trường Sa là đã mất.

Sự việc như vậy thì làm sao có thể kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế?

Nhưng nhượng bộ này của Việt Namcũng không xong. Chủ trương của Trung Quốc là “muốn hết”. Chủ trương này, nếu Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm pháp lý. Thỏa mãn Trung Quốc, Việt Nam không phải “mất ít” hay “mất nhiều” mà là “mất hết”.

Tôi đã viết một số bài, như bài “Chủ quyền của Việt Nam tại Tư Chính, Vũng Mây”, trong đó đả kích đích danh một số cá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam. Người ta chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng. Lý lẽ “các đảo Trường Sa là các đảo nhỏ do đó không thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền” là không thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên đất liền.

Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN, vì tôi thấy có giải pháp khác. Việt Nam “được ít, được nhiều hay được tất cả” thay vì “mất ít, mất nhiều hay mất tất cả”.

Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước. Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có can đảm chính trị hay không? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không? Có dám phục hồi danh dự và bồi xứng đáng cho tập thể “ngụy quân, ngụy quyền” mà họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không?

Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể “kế thừa” di sản của người này được.

Ngoài ra còn thái độ của các học giả Việt Nam hiện nay. Tôi đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hầu hết đều do các học giả VNCH viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của các học giả Việt Nam hôm nay đều không ghi tên các tác giả VNCH. Việc này cho thấy, các học giả Việt Nam hiện nay cũng phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy hành sử chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thế này thế nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.

Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của quốc gia Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận nó. Việc này có thể không còn xa lắm.

Trương Nhân Tuấn

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Lê Anh Hùng – Từ chuyện xây dựng tiêu chí Người Hà Nội thanh lịch, văn minh nghĩ về một nền văn hóa bị cưỡng bức

Thật sai lầm khi lại mường tượng rằng quá trình tiến hoá biểu thị một xu hướng liên tục nhằm tới sự hoàn hảo.
Quá trình đó chắc chắn là liên quan đến
sự thay hình đổi dạng liên tục của sinh vật
nhằm thích ứng với điều kiện mới, song tuỳ thuộc
vào bản chất của những điều kiện như thế mà
chiều hướng của những đổi thay này sẽ đi lên hay đi xuống.
T. H. Huxley, The Struggle for Existence in Human Society, 1888

Dù đã hơn một năm trôi qua song hẳn không ít người vẫn chưa hết băn khoăn, ngờ vực trước thông tin UBND Tp Hà Nội đề ra mục tiêu xây dựng tiêu chí “người Hà Nội thanh lịch, văn minh” hầu “nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho người dân Thủ đô”. [1]

Văn hoá là một khái niệm rộng và có rất rất nhiều định nghĩa khác nhau. Ngay từ năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã tập hợp được 164 định nghĩa về văn hoá trong cuốn Culture: A Critical Review of Concepts and Definitions. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hoá (tạm dịch): “Văn hoá cần được coi như một tập hợp bao gồm những đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm xã hội, mà bên cạnh văn học và nghệ thuật, nó còn bao hàm lối sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và niềm tin.” [2]

Như vậy, những gì được coi là “thanh lịch, văn minh” nói trên chính là một phần của văn hoá. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu việc áp đặt những tiêu chí đánh giá con người như vậy có khiến cho văn hoá phát triển theo chiều hướng lành mạnh hay nâng cao được “đời sống văn hoá, tinh thần” cho người dân như kỳ vọng hay không? Và một nền văn hoá chịu sự áp đặt duy ý chí như thế sẽ “phát triển” hay “tiến hoá” ra sao?

Dù định nghĩa thế nào thì văn hoá cũng là sản phẩm của con người xã hội: con người của sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, chính các quy tắc giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người, hay nói rộng ra là giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội mới là nhân tố quyết định xác định nên văn hoá của một cộng đồng hay một xã hội.

Những quy tắc này ra đời trong xã hội theo những cách khác nhau, chúng ràng buộc cách thức ứng xử vốn dĩ mang tính tuỳ ý và cơ hội chủ nghĩa của con người. Người ta phân biệt hai loại quy tắc (hay thể chế) dựa trên nguồn gốc của chúng:

  • Các quy tắc bên trong (thể chế bên trong) tiến hoá từ kinh nghiệm của con người và bao gồm những giải pháp có xu hướng phụng sự con người tốt nhất trong quá khứ. Ví dụ ở đây là các tập quán (customs), quy chuẩn đạo đức (ethical norms), quy ước thương mại (conventions in trade), cũng như luật tự nhiên (natural law [3]) trong xã hội Anlo-Saxon. Việc vi phạm quy tắc bên trong thường bị trừng phạt phi chính thức, chẳng hạn là bởi những người khác trong cộng đồng, khi những người có thói hư tật xấu nhận ra rằng họ không còn được chào đón nữa.
  • Các quy tắc bên ngoài (thể chế bên ngoài) chịu sự áp đặt và chế tài từ trên xuống, sau khi được thiết kế và thiết lập bởi những người đại diện, vốn được uỷ quyền thông qua một quy trình chính trị. Một ví dụ ở đây là pháp luật. Các quy tắc bên ngoài đi kèm với những chế tài rõ ràng, đây là những hình phạt được áp đặt chính thức và có thể được áp đặt bằng cách sử dụng quyền lực hợp pháp (chẳng hạn như lực lượng cảnh sát). [4]

Các quy tắc bên trong tự hình thành trong lòng xã hội và tiến hoá từ kinh nghiệm của con người nên nó tuỳ thuộc vào thiên hướng tự nhiên của một dân tộc, một cộng đồng hay một xã hội, chúng nằm ngoài ý chí của một người hay một nhóm thiểu số. Ngược lại, các quy tắc bên ngoài được thiết kế và áp đặt bởi những người đại diện chính trị, thông qua một quy trình chính trị, nên sự ra đời và áp đặt chúng lại tuỳ thuộc vào ý chí của một số ít cá nhân trong cộng đồng hay xã hội đó. Vấn đề sẽ nẩy sinh bất cứ khi nào mà ý chí của số ít cá nhân đó đi ngược lại ý chí và lợi ích chung của số đông. Trong các xã hội dân chủ, cơ chế vận hành dân chủ của hệ thống chính trị sẽ cho phép người dân giám sát hữu hiệu những người đại diện chính trị của mình và khi cần thì loại bỏ những người đại diện ích kỷ và cơ hội chủ nghĩa. Trong một chính thể độc tài thì lại khác, quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân thông qua các lá phiếu bầu cử dân chủ, mà thuộc về một nhóm người vẫn đang thao túng quy trình bầu cử, khống chế các quyền lực xã hội như báo chí hay xã hội dân sự và lũng đoạn bộ máy nhà nước. Sự ra đời và áp đặt các quy tắc bên ngoài không phục vụ cho lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, mà chủ yếu là nhằm phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nhỏ bé đang nắm quyền lực. Mối quan hệ giữa người với người hay giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội vì vậy mà trở nên méo mó và lệch lạc. Hậu quả đương nhiên ở đây là một nền văn hoá với những “sản phẩm” ngày càng xuống cấp, suy đồi.

Tham vọng xây dựng tiêu chí “người Hà Nội thanh lịch, văn minh” trên đây của chính quyền Tp Hà Nội không khỏi khiến người ta rùng mình nhớ lại một giai đoạn đầy bi thương khi mà hàng loạt công trình đền chùa, miếu mạo, nhà thờ… bị phá bỏ không thương tiếc; khi mà những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc như ca trù, hát xẩm… bị lên án mạnh mẽ và không còn đất sống bởi những “chỉ đạo” và “chỉ thị” của Đảng CSVN. “Sáng kiến” đó có lẽ bắt nguồn từ sự lố bịch và dị hợm của cuộc vận động “học tập và làm theo” cái gọi là “tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng CSVN vẫn đang hô hào thực hiện suốt mấy năm nay, dĩ nhiên là bằng những đồng tiền thuế xương máu của nhân dân, hầu mong “xây dựng nền tảng văn hoá Việt Nam”, “xây dựng nền tảng đạo đức cho xã hội”[5] (!?).

Rõ ràng, một chủ thuyết phản tiến bộ kèm theo một thể chế chính trị lệch lạc, “bà đỡ” cho một rừng luật lệ tréo ngoe, phi nhân và bất công, cho những “chỉ đạo”, “chỉ thị” ngẫu hứng và duy ý chí nói trên, đã góp phần quyết định trong việc phá vỡ những nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc, đồng thời nhào nặn nên một nền “văn hoá” mới – “nền văn hoá đậm đà bản sắc chính trị” với những dối trá, bịp bợm và suy đồi, một thực tế mà chúng ta vẫn đang phải chứng kiến hàng ngày ở hầu khắp mọi nơi: “văn hoá giao thông” với phương châm thực dụng “mạnh ai nấy chạy”; “văn hoá phong bì” với sự thống trị lạnh lùng, vô cảm của đồng tiền; “văn hoá tu bổ” với phong trào “bê tông hoá” các di tích văn hoá – lịch sử; “văn hoá cưỡng chế” với những “điển hình” như vụ “khoả thân giữ đất” ở Cần Thơ: “văn hoá chụp giật” với đủ hình thức “chặt chém” ở các khu du lịch, lễ hội, v.v. và v.v.

Tại buổi họp báo về cuộc hội thảo khoa học “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật trong thời kỳ CNH, HĐH” do Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật TW tiến hành gần đây, PGS-TS Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng, đã đưa ra nhận định: “Trong những năm qua tăng trưởng kinh tế của nước ta đã cải thiện đáng kể bộ mặt xã hội, nhưng bên cạnh đó đã và đang nảy sinh một thực tế đáng lo ngại là sự xuống cấp nghiêm trọng về văn hóa, về đạo đức xã hội; nhiều chuẩn mực bị đảo lộn; những giá trị tốt đẹp về truyền thống văn hóa của dân tộc đang bị xâm hại nghiêm trọng; các hành vi phi nhân tính của con người bộc lộ ngày càng tăng cả số lượng lẫn tính chất; khoảng cách giàu nghèo và sự chênh lệch trong hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền ngày càng lớn…, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ xã hội.” [6] Bên cạnh đó là vô số tiếng kêu của những người có lương tri trước tình trạng xuống cấp về văn hoá trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội [7]. Xin lấy dẫn chứng, một cách ứng xử tuy không mới nhưng gần đây đã trở thành một nét “văn hoá” tiêu biểu cho “thời đại Hồ Chí Minh” – đó là “văn hoá phủi bỏ trách nhiệm” với những biểu hiện “điển hình” như “tôi không ra quyết định nào sai”, “dân bất bình nên phá nhà ông Vươn”, “vụ viêc ở Văn Giang là do các thế lực thù địch dàn dựng”, hay “việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng là đúng quy trình”, v.v.

Điều đáng nói hơn nữa là quá trình “tiến hoá” về mặt văn hoá mà chúng ta đề cập trên đây vẫn đang diễn ra trong xã hội Việt Nam theo chiều hướng ngày càng suy đồi và đáng báo động, như cái quy luật mà nhà sinh học người Anh Thomas Henry Huxley (1825-1895) đã chỉ ra trong tác phẩm The Struggle for Existence in Human Society (Cuộc đấu tranh sinh tồn trong xã hội loài người, 1888) cách nay hơn một thế kỷ.
Khi người ta nặn ra những “danh hiệu” như “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và đặt việc “phong tặng” chúng vào trong tay chính quyền, người ta đã phó mặc số phận của những gì cấu thành nên khái niệm văn hoá cho sự thất thường và tuỳ tiện của quyền lực độc đoán [8]. Văn hoá là sản phẩm của con người, nhưng với những thứ “văn hoá” như chúng ta đã nêu ra trong bài viết này thì đấy là những “đứa con” mà không một người mẹ có tiết hạnh và phẩm giá nào muốn thừa nhận, bởi chúng là kết quả của sự cưỡng bức quá ư thô bạo do những kẻ vừa bất lương vừa hoang tưởng thực hiện.

Hãy cứu lấy nền văn hoá Việt Nam!

________________________

Ghi chú:

1. Báo Hà Nội Mới ngày 29/12/2010: Sẽ xây dựng tiêu chí “Người Hà Nội thanh lịch, văn minh” (http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/1000_nam_thang_long/419199/se-xay-dung-tieu-chi-nguoi-ha-noi-thanh-lich-van-minh.htm).

2. http://www.unesco.org/education/imld_2002/unversal_decla.shtml#2.

3. Luật tự nhiên (natural law) dựa trên sự khẳng định rằng con người có một số quyền bất khả xâm phạm nhất định. Theo Aristotle, mọi người ai cũng có một số quyền tối quan trọng và bất khả xâm phạm nào đó, bất kể nơi họ sống cũng như những quy ước và luật lệ mà cộng đồng của họ tuân theo. Luật tự nhiên thừa nhận, tất cả mọi người đều bình đẳng trên một số phương diện cơ bản nào đó. Trong kỷ nguyên hiện đại, khái niệm luật tự nhiên với tư cách một nguyên lý pháp lý cấp cao tiếp tục được thừa nhận sau những gì từng xẩy ra với các chế độ toàn trị. Ngày nay nó được thừa nhận rộng rãi như là nguồn gốc của một số quyền tự do thụ động cơ bản (tình trạng thoát khỏi sự can thiệp của các cơ quan quyền lực và những người khác).

4. Wolfgang Kasper & Manfred E. Streit: Kinh tế học thể chế: Trật tự xã hội và chính sách công (Institutional Economics: Social Order and Public Policy), trang 42 (http://ethongluan.org/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=59&Itemid=)

5. Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 7/2/2009: Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa chính trị sâu sắc (http://www.qdnd.vn/qdndsite/en-us/75/47403/print/Default.aspx).

6. Báo Thanh Niên ngày 9/12/2011: Kinh tế phát triển nhưng văn hoá xuống cấp (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111209/kinh-te-phat-trien-nhung-van-hoa-xuong-cap.aspx).

7. Thử gõ cụm từ “sự xuống cấp văn hoá” trên Google, chúng ta sẽ nhận được vô số bài viết liên quan đến chủ đề này ở Việt Nam hiện nay: “Sự xuống cấp văn hoá của làng thể thao Việt Nam”; “Nghèo chất xám hay sự xuống cấp về văn hoá”; “Văn hoá bóng đá xuống cấp: Nhà dột từ… nóc”; “Văn hoá đọc xuống cấp: mối lo không của riêng ai”, v.v.

8. Theo Bộ VH-TT-DL, đến hết năm 2011, cả nước có trên 12,7 triệu/17,3 triệu gia đình (73,4%) được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” (http://www.tdtt.gov.vn/tabid/57/ArticleID/13279/Default.aspx). Dĩ nhiên, tỷ lệ này vẫn gia tăng qua các năm. Ai dám khẳng định là xã hội Việt Nam đang xuống cấp về văn hoá?!

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Chết vì tay Trung Quốc – Bài 3: Đồng nhân dân tệ trở thành vũ khí

Một cách nghịch lý, Trung Quốc phải tăng thêm dự trữ USD để bảo vệ kho dự trữ đang bị mất dần giá trị.

Death by China (Chết vì tay Trung Quốc) mở đầu chương bàn về chiến tranh tiền tệ bằng việc dẫn lời một nhà hoạt động người Mỹ, Eric Lotke, nói rằng: “Công nhân Mỹ có thể cạnh tranh ngang ngửa từng đôla với công nhân Trung Quốc. Họ chỉ không thể cạnh tranh giữa đôla với đồng nhân dân tệ đã được can thiệp điều khiển”.

Theo số liệu do chính Trung Quốc công bố, vào năm 2009, kho dự trữ ngoại tệ của họ đã tăng thêm 453 tỉ USD so với năm trước đó, để đạt khoảng 2.400 tỉ USD.

Có thể biến Mỹ thành con nợ

Trong một bài báo đăng trên Newsweek số ra ngày 1-2-2010, tác giả Robert J. Samuelson đưa ra một kịch bản xấu, rằng nếu bỗng nhiên Trung Quốc bán tống bán tháo kho dự trữ này thì đồng USD sẽ mất vai trò đồng tiền mạnh của thế giới và nước Mỹ sẽ bị giảm sút cả uy tín lẫn quyền lực. Tuy vậy, Trung Quốc sẽ không làm thế, vì lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ đó rất có ích cho họ: Thứ nhất là họ có thể dùng tiền ấy để mua công trái của Mỹ, để trở thành chủ nợ của chính phủ Mỹ. Thứ hai là họ dùng ngoại tệ để đầu tư vào nguyên liệu (dầu hỏa, khoáng sản), công nghệ hoặc đem đi viện trợ, cho vay để gây ảnh hưởng chính trị lên các nước khác. “Tóm lại, Trung Quốc có một bó tiền trị giá 2.400 tỉ USD để tùy nghi sử dụng. Vấn đề tức cười là: Mặc dù họ than thở là họ giữ quá nhiều trái phiếu của Mỹ nhưng chính việc nắm giữ trái phiếu này lại giúp đỡ các mục tiêu kinh tế của Trung Quốc: Tạo công ăn việc làm cho người lao động bằng cách xuất khẩu và ngăn ngừa nạn khan hiếm các loại nguyên liệu thiết yếu (…). Nhưng điều gì tốt cho Trung Quốc chưa chắc đã tốt cho phần còn lại của thế giới, kể cả nước Mỹ” – Robert J. Samuelson viết.

Đó cũng chính là những gì chương “Chết vì đồng nhân dân tệ: Ngọa hổ, tàng long” trong cuốn sách Death by China đề cập.

Thao túng tiền tệ

Hai tác giả Peter Navarro và Greg Autry khẳng định: “Nếu đồng tiền là nguồn gốc của mọi tội lỗi thì hành động thao túng đồng nội tệ của Trung Quốc – đồng nguyên (tức là nhân dân tệ) – là nguyên nhân gốc rễ của mọi vấn đề tồn tại trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung”.

7chot_b109f.jpg

Mỹ chịu thiệt thòi to lớn trong quan hệ đó. Các tác giả viết: “Về quy mô tuyệt đối, mỗi ngày, Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc nhiều hơn 1 tỉ USD so với xuất khẩu. Về quy mô tương đối, gần nửa thâm hụt về mậu dịch hàng hóa của Mỹ là do Trung Quốc gây ra và nếu không tính dầu hỏa thì mức thâm hụt là 75%”. Hai ông nêu rõ: “Nếu Mỹ muốn giảm thâm hụt thương mại để thúc đẩy tăng trưởng và tạo thêm việc làm, điểm khởi đầu tốt nhất là cải cách tiền tệ ở Trung Quốc”.

Navarro và Autry giải thích Bắc Kinh đạt được thặng dư mậu dịch là nhờ duy trì chính sách can thiệp để gắn chặt đồng nhân dân tệ với đôla Mỹ, trong đó nhân dân tệ được định giá rất rẻ (1 USD ăn 6 RMB), chỉ khoảng 40% giá trị thực. Thực ra, điều này đã được giới chuyên gia và truyền thông quốc tế nói đến từ lâu; Death by China cũng không đưa ra được thêm nhiều bằng chứng hay kiến giải mới, mang tính khoa học. Tuy nhiên, cuốn sách diễn đạt một cách khá thẳng thắn và dễ hiểu: Cứ mỗi đôla hàng bán sang thị trường Mỹ, nhà xuất khẩu Trung Quốc chỉ phải đặt mức giá khoảng 60 cent, chẳng khác gì được nhà nước trợ giá. Ngược lại, mỗi đôla sản phẩm bán vào Trung Quốc, doanh nghiệp Mỹ phải định giá hàng cao hơn thế – như một loại thuế gián thu vậy. Bên cạnh đó, họ còn phải trả thêm khoảng 30% thuế trực thu.

Death by China phân tích: “Quá trình bắt đầu khi tôi và bạn đi vào một cửa hàng, ví dụ Walmart và mua một sản phẩm nhập từ Trung Quốc. Sau đó những đồng đôla của chúng ta sẽ được chuyển ra ngoài (tức là về Trung Quốc – ND). Khi ấy để duy trì tỉ giá cố định giữa USD và RMB, Trung Quốc sẽ phải nhanh chóng tái xuất “đồng đôla Walmart” trở lại thị trường Mỹ, bằng cách mua các tài sản tài chính như trái phiếu chính phủ Mỹ, bất động sản hoặc các công ty Mỹ; bằng không, đồng nguyên sẽ chịu áp lực rất lớn phải tăng giá”.

“Ăn mày hàng xóm”

Đến đây, Death by China đưa ra một khái niệm mà có lẽ còn ít độc giả bình dân biết: “Và bây giờ là diễn biến thú vị nhất trong câu chuyện khống chế tiền tệ của Trung Quốc: Trước khi chính phủ Trung Quốc có thể tái xuất bất cứ đồng đôla Walmart nào, họ phải giành quyền kiểm soát số đôla mà các nhà xuất khẩu đã tích lũy được. Việc này đòi hỏi phải có một quá trình phức tạp gọi là khử trùng.

Khử trùng đồng đôla Walmart, tức là ép doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốc phải mua trái phiếu chính phủ Trung Quốc bằng mệnh giá đôla. Cho mỗi trái phiếu bị buộc phải mua (như một hình thức giao nộp đôla cho chính quyền), doanh nghiệp sẽ được nhận khoảng 4% lãi suất. Sau đó, chính phủ Trung Quốc sẽ tái đầu tư những đồng bạc đã được “khử trùng” này vào trái phiếu chính phủ Mỹ, với lãi suất dưới 2%. Nghĩa là họ sẽ mất ít nhất 2% cho mỗi đồng đôla mà họ “khử trùng” và tính tổng cộng thì sẽ mất tới hàng tỉ USD. Tại sao ngân hàng trung ương lại có thể chịu thiệt như thế? “Đó là bởi vì Đảng Cộng sản Trung Quốc quan tâm đến tạo công ăn việc làm để duy trì ổn định chính trị và quyền lãnh đạo đất nước hơn rất nhiều so với tạo thu nhập” – cuốn sách viết. “Đây là một trong những khác biệt lớn nhất giữa chủ nghĩa tư bản của Mỹ và chủ nghĩa tư bản nhà nước “ăn mày hàng xóm” của Trung Quốc”.

Bạn đọc có thể thấy nhận định trên đây của Peter Navarro và Greg Autry về hoạt động “khử trùng đồng đôla” có phần nào chủ quan và thiếu thuyết phục, vì không lẽ Trung Quốc chấp nhận (và chịu đựng) được lâu dài tình trạng đi vay với lãi suất 4% và cho vay lãi suất dưới 2%? Ngoài ra, cũng từng có những chuyên gia tài chính quốc tế chỉ ra rằng việc Trung Quốc ôm một kho dự trữ 2.400 tỉ USD không phải hoàn toàn là điều tốt. Ngay từ giữa năm 2009, nhà kinh tế Đức Wrich Volz đã viết: “Trung Quốc rất lo lắng cho sự an toàn tài sản của họ. Họ sợ là chính phủ Mỹ theo đuổi những chính sách tài chính và tiền tệ bất cẩn sẽ làm giảm giá trị tài sản của mình”, “Mọi việc cho thấy là nếu họ bán tống bán tháo số USD này đi, sẽ gây nên cuộc khủng hoảng của đồng đôla”.

Tuy nhiên, chính sách “ăn mày” của Trung Quốc thì đã được nhiều người khác nói tới từ lâu. Keith Bradsher viết trên tờ New York Times rằng đất nước này “ăn mày công dân của chính họ, bằng cách giữ mức lương và lãi suất ngân hàng thấp để hỗ trợ xuất khẩu”. Trong Death by China, hai tác giả nhận định Trung Quốc còn “ăn mày hàng xóm”: “Họ tuyên bố là nếu đồng nhân dân tệ mạnh lên thì sẽ làm sụt giảm nghiêm trọng xuất khẩu, phá hoại nền kinh tế Trung Quốc. Nhưng đó chỉ là một cách khác để nói rằng cách duy nhất để Trung Quốc có thể tăng trưởng là đi ăn mày phần còn lại của thế giới”.

“Sự mất cân đối trong quan hệ mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc không bao giờ có thể tồn tại trong một thế giới tự do thương mại, nơi Trung Quốc để cho đồng tiền của họ dao động giá thoải mái cùng với những đồng tiền được thả nổi khác như yen Nhật, franc Thụy Sĩ, real Brazil, rupee Ấn Độ và đôla Mỹ. (…) Bởi vì trong thế giới tự do thương mại, khi thâm hụt của Mỹ tăng lên, đồng đôla sẽ giảm giá tương đối so với nhân dân tệ. Khi đôla giảm giá, xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc sẽ tăng, hàng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm xuống và mậu dịch song phương sẽ cân bằng trở lại. Tuy nhiên, bằng việc gắn chặt đồng nhân dân tệ với đôla, Trung Quốc đã phá hoại cơ chế thương mại tự điều chỉnh, phá hoại khuôn khổ tự do thương mại đặt trên nền tảng nguyên tắc các bên cùng có lợi”. (Death by China)

ĐOAN TRANG tổng thuật

Kỳ sau: Cuộc tấn công của những hacker đỏ

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Iris Vinh Hayes – Thời cơ một cuộc cách mạng

Nhân đọc bài “Việt Nam Nhất Định Có Cách Mạng Sớm Nếu…” của tác giả Nguyễn Ngọc Già, và vì tin rằng đây là một chủ để quan trọng, nên xin được phép gởi đến quý vị một bài viết trước đây.

Theo các nhà khoa học xã hội đã từng nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới quần chúng có đông đảo xuống đường làm thành một biển người đối kháng với bộ máy cầm quyền độc tài hay không sẽ tùy thuộc vào một yếu tố duy nhất: cảm nhận của quần chúng về khả năng thành công của một cuộc cách mạng. Cảm nhận đó của quần chúng lại tùy thuộc vào ảnh hưởng của những xung động lực đến từ 3 tác nhân: nhà cầm quyền, lực lượng đối kháng, và quần chúng.

Về phía nhà cầm quyền độc tài chuyên chế thì lúc nào họ cũng (a) tỏ rõ thái độ không bao giờ tự động rời bỏ hoặc chuyển giao quyền lực; (b) sẵn sàng sử dụng bộ máy cầm quyền để đè bẹp các thế lực đối kháng; (c) ngăn chận thông tin đến từ phía đối kháng; (d) ép nhẹm những thông tin bất lợi cho bộ máy cầm quyền; (e) tuyên truyền ồ ạt với thông tin một chiều để thuyết phục quần chúng rằng nhà cầm quyền đất nước rất được quần chúng tín nhiệm, rất có chính nghĩa và rất vững chắc; (f) tung hỏa mù bằng cách đưa ra những sự kiện/vấn đề nóng nhằm làm cho quần chúng và những người đối kháng với bộ máy cầm quyền bị lạc đường, mất định hướng, phân tán lực lượng, hoài nghi lẫn nhau, bị cuốn hút vào những hứa hẹn hay mục tiêu nhảm nhí, có ảo tưởng rằng bộ máy cầm quyền sẽ tự sửa sai và làm tốt hơn; (g) dựng lên một kẻ ngoại thù để khơi dậy lòng yêu nước, để răn đe là sẽ bị mất nước nếu không hợp tác với nhà cầm quyền, hoặc để trấn áp với lý do vì an ninh quốc gia.

Ở một mặt khác thì nhà cầm quyền độc tài lại rất bất an: (a) vì biết rằng đại đa số quần chúng sẽ không bao giờ công khai ý nghĩ chống đối của mình để cho nhà cầm quyền biết, bộ máy cầm quyền càng độc tài chuyên chế thì dân càng giỏi che dấu, cho nên khó biết dân thực sự đang nghĩ gì và sẽ làm gì nếu có cơ hội; (b) vì không biết quần chúng tin ai hơn, tin vào tiếng nói của nhà cầm quyền hay tin vào tiếng nói của thành phần đối kháng; (c) vì không biết giữa “tâm trạng của quần chúng” với “suy đoán của nhà cầm quyền về tâm trạng của quần chúng” có khoảng cách bao xa và khoảng cách đó có đủ để kích nổ một cuộc cách mạng hay không; (d) vì nếu có cuộc cách mạng nổ ra không biết là bộ máy cầm quyền có chịu nổi áp lực và có khả năng sống còn hay không; và (e) vì khi đã có một cuộc cách mạng nổ ra thì nhà cầm quyền sẽ có hai sự chọn lựa là (e1) nhường nhịn và đáp ứng phần nào yêu sách của quần chúng hoặc là (e2) thẳng tay đánh dẹp nhưng, khổ nạn là, cả hai sự chọn lựa đều có khả năng làm cho quần chúng quyết tâm hơn trong việc giải thể chế độ độc tài.

Về phía đối kháng với nhà cầm quyền thì họ (a) chủ tâm thu thập thông tin, nhất là thông tin mật từ phía nội bộ nhà cầm quyền, nên có nhiều thông tin hơn quần chúng; (b) biết rõ về bản chất, thực chất, và những vấn nạn của bộ máy cầm quyền hơn là quần chúng; (c) cố gắng thuyết phục quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới đất nước là cần thiết; (d) cố gắng thuyết phục quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới sẽ có nhiều cơ hội thành công; và (e) kêu gọi quần chúng hành động. Những người đối kháng chỉ ra mặt khi (1) tin rằng quần chúng sẽ nghe theo và (2) tin rằng có thể giật sập được bộ máy cầm quyền.

Khả năng quần chúng có nghe theo lời kêu gọi hay không tùy thuộc vào uy tín của lực lượng đối kháng. Ở trong môi trường dễ xuống đường thì lời kêu gọi của lực lượng đối kháng khó thuyết phục quần chúng rằng nhà cầm quyền đang yếu thế. Tuy nhiên, môi trường như vậy sẽ dễ khuyến khích lực lượng đối kháng xuống đường hơn vì ít nguy hiểm hơn. Ngược lại ở trong môi trường càng khó xuống đường chừng nào thì lời kêu gọi của lực lượng đối kháng càng có uy tín đối với quần chúng. Khả năng trừng trị của nhà cầm quyền càng mạnh chừng nào thì sự kêu gọi của lực lượng đối kháng càng có uy tín chừng ấy đối với quần chúng, vì quần chúng tin rằng đó là dấu hiệu cho thấy nhà cầm quyền đã suy yếu rồi nên những nhà đối kháng mới dám ra mặt. Dấu hiệu “nhà cầm quyền đã suy yếu” khuyến khích sự tham dự của quần chúng

Thông thường thì thành phần đối kháng với nhà cầm quyền sẽ “trốn kín” cho đến khi họ thấy có cơ hội thành công mới ra mặt đối kháng và kêu gọi quần chúng xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới. Đặc biệt là những người đối kháng nằm bên trong hệ thống cầm quyền, những người một thời đã từng là công thần cao cấp của chế độ. Họ có rất nhiều thông tin về sự rạn nứt bên trong và thấy rõ cái bệ rạc của hệ thống cầm quyền. Sự đánh giá của họ về tình hình sẽ chính xác hơn là những người quan sát từ bên ngoài. Theo đó, ước tính của họ về thời điểm hành động cũng đáng tin cậy hơn. Vì thành phần đối kháng với nhà cầm quyền độc tài luôn bị đe dọa bởi hiểm họa ở cấp độ cao nhất cho nên họ phải “trốn kín” là điều đương nhiên. Nhưng một khi họ đã dám ra mặt chống đối nhà cầm quyền thì quần chúng có thể nhận ra là thời cơ đã tới và rất có thể sẽ đáp ứng lời kêu gọi xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới đất nước.

Về phía quần chúng, họ tiếp cận thông tin từ cả hai phía, phía nhà cầm quyền và phía đối kháng, rồi dùng thông tin đó để ước đoán tình hình và làm quyết định. Thông tin từ phía đối kháng thì cố gắng thuyết phục quần chúng đứng lên chống nhà cầm quyền còn phía nhà cầm quyền thì làm ngược lại. Dưới một bộ máy cai trị độc tài, quần chúng ít được tiếp cận với thông tin trung thực và càng khó tiếp cận với thông tin đối kháng. Do đó, kết quả là đại đa số quần chúng sẽ có khuynh hướng thờ ơ.

Nếu như phía đối kháng có giỏi đưa thông tin đến quần chúng, nếu như quần chúng có thể liên tục tiếp cận thông tin đối kháng, và nếu như thông tin đối kháng thuyết phục được quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới là cần thiết…thì quần chúng sẽ ấp ủ giấc mơ đổi mới và giữ kín trong lòng chờ cơ hội. Nhưng quần chúng sẽ không hành động nếu như họ không nhìn thấy khả năng thành công. Họ phải nhìn thấy dấu hiệu “nội bộ nhà cầm quyền đang bị rạn nứt, rớt vào khủng hoảng, sắp bị sụp đổ.” Họ phải nhìn thấy “chính quyền đã suy yếu.” Họ phải nhìn thấy “có một lực lượng đối kháng có thực lực” đang đứng sau lưng quần chúng vận động lật đổ nhà cầm quyền. Quần chúng có được những cái “thấy” như vậy thì mới hy vọng họ chịu xuống đường, mới dám biến giấc mơ đổi mới đã ấp ủ và giữ kín trong lòng thành hành động cụ thể.

Sự thật là: quần chúng không biết được sức mạnh thực sự của nhà cầm quyền, vì thông tin này chỉ đến từ biến cố thật. Hay nói một cách khác là, quần chúng chỉ thực sự biết nhà cầm quyền có sức mạnh tới đâu sau khi đã có một cách mạng nổ ra. Sự thật là: nhà cầm quyền độc tài cũng không biết được sức mạnh thực sự của quần chúng, vì thông tin chỉ đến từ biến cố thật. Hay nói một cách khác là nhà cầm quyền thực sự biết quần chúng có đủ sức mạnh để giải thể đổ chế độ độc tài hay không chỉ sau khi đã có một cách mạng nổ ra. Biến cố thật là cái giá rất cao, cho cả hai phía, để có được thông tin này. Vắng mặt “biến cố thật” để sự thật tự phơi bày thì chỉ còn lại “sự thật theo cảm nhận” tác động lên cán cân chính trị. Cán cân nghiêng về phía nhà cầm quyền độc tài hay nghiêng về phía lực lượng đối kháng sẽ tùy thuộc vào sự cảm nhận của quần chúng. Do đó, tận dụng thông tin để gây ấn tượng “như thật” là một cuộc chiến tiền biến cố. Muốn quần chúng xuống đường, phía đối kháng phải thắng trận chiến thông tin tiền biến cố, phải tạo ấn tượng “như thật.”

Một cuộc cách mạng chỉ có thể xảy ra khi có đủ hai điều kiện: (1) quần chúng phải tin là cần phải có một cuộc cách mạng đổi mới và đáng để tham gia và (2) phải có một lực lượng đối kháng đứng ra điều hợp, thúc đẩy và hướng dẫn cuộc cách mạng. Không có niềm tin vào một cuộc cách mạng đổi mới và không có một lực lượng đối kháng làm dung môi cho một cuộc cách mạng thì quần chúng khó có thể tự phát thành biển người đối kháng.

Những cuộc cách mạng mới đây được báo chí nhận xét là những cuộc cách mạng tự phát và không có lãnh tụ. Cụm chữ “một cuộc cách mạng tự phát” không đồng nghĩa với “không có một lực lượng đối kháng làm dung môi cho cuộc cách mạng”“cuộc cách mạng không lãnh tụ” không đồng nghĩa với “không có một lực lượng đối kháng đứng trong bóng tối hay đứng sau lưng quần chúng để vạch kế hoạch và điều hợp chương trình hành động.” Điều này có nghĩa là, nói thế nào thì nói nhưng trên thực tế thì vai trò của một lực lượng đối kháng trong tiến trình dẫn đến một cuộc cách mạng khẳng định là không thể thiếu.

Nhìn vào tình hình của Việt Nam, người ta có thể hiểu được tại sao đại đa số quần chúng tỏ vẽ thờ ơ trước thời cuộc. Dân chúng Việt Nam không hèn nhát cũng không thiếu tinh thần trách nhiệm như một số người đã nhận xét. Nó chỉ đúng với những gì quan sát được trên bề mặt. Nhà cầm quyền độc tài “khoái” cách nhìn này vì họ muốn mọi người tin là như vậy để tự từ bỏ hy vọng sẽ có một cuộc cách mạng đổi mới đất nước. Thật ra, sự thờ ơ của quần chúng trong một đất nước đang nằm dưới sự khống chế của một bộ máy độc tài toàn trị cho người ta thấy được hai vấn đề cực kỳ quan trọng, có thể nói đó là hai điều kiện đang làm “đông lạnh” sức mạnh của quần chúng. Đó là (1) đại đa số quần chúng chưa tiếp cận được hoặc chưa tiếp cận đủ thông tin từ phía đối đối kháng, do đó, chưa cảm nhận được sự cần thiết của một cuộc cách mạng đổi mới đất nước; hoặc/và (2) đại đa số quần chúng chưa thấy những dấu hiệu và do đó chưa cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng.

Điều kiện thứ nhất tuy là đang làm đông lạnh quần chúng nhưng, sau khi đã nhìn thấy, thì chính nó lại là một cơ hội lớn để cho lực lượng đối kháng hoạch định một chiến sách khác tích cực hơn để “làm tan đông lạnh” thúc đẩy một cuộc cách mạng đổi mới đất nước. Chiến sách đó có thể là tạo điều kiện để quần chúng tiếp cận thông tin đối kháng một cách sâu rộng hơn và liên tục bằng cách tích cực ĐẨY thông tin đến tay quần chúng thay vì chờ quần chúng tự KÉO thông tin một cách nhỏ giọt từ những nguồn không được tự do tiếp cận như tình trạng hiện tại.

Chỉ trông cậy vào những cơ quan truyền thông để thực hiện chiến sách này thì chưa đủ. Muốn làm được công việc này cần có sự sáng tạo, có phương án tốt và có sự tham gia đông đảo của cá nhân. Và cá nhân không phải chỉ đơn thuần là tham gia truyền tải thông tin mà là tham gia vào cuộc chiến thông tin để giải phóng đất nước khỏi ách độc tài toàn trị. Mỗi một cá nhân đủ sức để biến một hạch nhân thành lực lượng lớn. Một que diêm không cho đủ lửa nhưng hàng triệu que diêm có thể làm tan cả Bắc Băng Dương. Phải thắng “cuộc chiến thông tin tiền biến cố” thì lực lượng đối kháng mới có hy vọng động viên được quần chúng xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới đất nước.

Một chiến sách tích cực hơn cho một cuộc chiến thông tin tiền biến cố thôi cũng chưa đủ. Cần phải có một lực lượng đối kháng có thực lực. Không có một lực lượng đối kháng đủ thực lực đứng ra vận động, quần chúng khó có thể cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng. Hai học giả Jack A. Goldstone và John Hazel cũng đồng ý về điểm này. Hai ông nói, trong bài viết Understanding the Revolutions of 2011, một cuộc cách mạng có thể thành công cần phải hội đủ một số yếu tố. Thứ nhất, quần chúng phải nhìn thấy chính quyền là một đại họa cho tương lai của đất nước. Thứ hai, công thần cao cấp của chế độ, đặc biệt là trong quân đội, đang bất mãn hoặc không còn muốn chống đỡ cho chế độ nữa. Thứ ba, một đám đông quần chúng kết hợp diện rộng (tham dự của mọi giai tầng, mọi tôn giáo, mọi sắc tộc) phải được “ai đó” động viên để xuống đường đối kháng với chính quyền. Và, sau cùng là những quyền lực quốc tế sẽ không nhúng tay trợ giúp cho nhà cầm quyền độc tài (nếu được họ đứng ra bênh vực quần chúng thì càng tốt).

Với hiện tình của đất nước, thành lập một liên minh tôn giáo và một công đoàn lao động đại diện cho công nhân có lẽ là con đường nhanh nhất để có được “ai đó” đứng ra vận động quần chúng. Một liên minh tôn giáo và một công đoàn lao động cũng sẽ cho lợi thế và cơ hội nhiều nhất trong vai trò là lực lượng đối kháng để quần chúng cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng đấu tranh bất bạo động. Một công đoàn lao động cần có sự tham gia của các luật sư và chuyên gia am tường về nhân sự và luật lao động, đang làm việc trong quốc nội và tại hải ngoại, để hướng dẫn công nhân đấu tranh. Một liên minh tôn giáo đã từng được hình thành trong quá khứ đấu tranh của đất nước. Hình thành một liên minh tôn giáo cho nhu cầu khẩn thiết của đất nước ngày hôm nay không phải là một khái niệm lạ và cũng không phải là việc khó thực hiện.

Iris Vinh Hayes (Nguyễn Trung Chính)

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Nguyễn Thanh Sơn – My Fair Lady hay là Sự khác biệt cơ bản của Lãnh tụ dân chủ thực sự và các nhà dân chủ giả hiệu

Khi giáo sư Klaus Schwab, chủ tịch của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, hỏi cảm giác của bà sau hai mươi bốn năm, lần đầu tiên lại ngồi trên máy bay rời khỏi Miến Điện, Aung San Suu Kyi, hay “Daw Suu” như người ta gọi bà tại Hội nghị Thượng đỉnh về Đông Á của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cười và kể “khi máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Suvarnabhumi, cơ trưởng có nhã ý mời tôi tới ngồi ở buồng lái. Và tôi bị choáng ngợp bởi ánh sáng phát ra từ sân bay thủ đô Bangkok. Các bạn cũng biết tôi tới từ Miến Điện, nơi điện vẫn bị cắt luân phiên, và hàng ngày vẫn có các cuộc biểu tình để phản đối cắt điện, cho nên khung cảnh về ánh sáng ở đây để lại cho tôi ấn tượng thế nào. Hai mươi bốn năm trước, tôi từng hạ cánh ở các sân bay như London hay New York, nhưng Bangkok vào những năm đó không có khác gì với Miến Điện bây giờ. Và tôi nghĩ…trời ạ, Miến Điện cần phải có một chính sách năng lượng mới!”

Cử tọa cười ồ lên tán đồng! Daw Suu là vậy, luôn luôn suy nghĩ về tương lai, luôn luôn suy nghĩ về hành động, luôn luôn suy nghĩ về “nhiệm vụ” của người lãnh đạo. (“Ngay từ nhỏ” – bà kể – “mẹ tôi đã dạy rằng, tôi phải đặt nhiệm vụ của mình lên trên tất cả, bởi một con người sống không có trách nhiệm thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi phải thừa nhận, trong cả cuộc đời của mình, không phải lúc nào tôi cũng đặt trách nhiệm của mình lên trên tất cả, nhưng tôi luôn luôn cố gắng”). Mặc dù có tới bốn thủ tướng của các quốc gia Đông Nam Á tham dự hội nghị, nhưng tâm điểm của Hội nghị không phải là họ, mà là người phụ nữ khả ái, giản dị, gầy gò, người có giọng nói nhỏ nhẹ nhưng toát lên một trí tuệ sâu sắc và hóm hỉnh này. Suốt 24 năm, chính quyền độc tài quân sự tại Miến Điện cố gắng cách ly bà với thế giới bên ngoài, nhưng không ai trong số các đại biểu ở Diễn đàn này lại có cảm giác bà có một chút “lạc hậu” nào với thế giới. Cứ như bà vừa bước ra từ một Diễn đàn quốc tế khác, và hội nghị này chỉ là một trong nhiều cuộc thảo luận quốc tế mà bà đã tham gia.

Điều gì làm ta có cảm giác đó? Có lẽ, đầu tiên là sự vị tha của Aung San Suu Kyi. Trong suốt thời gian hội nghị, bà không đề cập đến hai mươi tư năm giam lỏng của bà, cũng như những gì Miến Điện đã bị tước bỏ dưới chính quyền độc tài quân sự. “Điều đầu tiên chúng tôi cần là hòa giải dân tộc, một trong những vấn đề phức tạp nhất vì Miến Điện là nước có nhiều dân tộc khác nhau. Hòa giải dân tộc chỉ có thể đạt được trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, dựa trên nền tảng là lòng tin và cách tiếp cận vấn đề một cách ôn hòa” – bà chia sẻ. Là con người của hành động, Aung San Suu Kyi là người rất thực tế và bà không che giấu điều đó “Người ta nói quá trình dân chủ hóa và cải cách ở Miến Điện là không thể đảo ngược” -
bà tiếp tục – “Tôi nghĩ, để nó không thể đảo ngược được, chúng tôi cần xây dựng một nền tảng vững chắc, và giáo dục chính là nền tảng đó. Tôi là người thực tế, nên tôi tiếp cận vấn đề giáo dục một cách thực tế. Chúng tôi không cần thứ giáo dục đại học đào tạo ra các thạc sĩ quản trị kinh doanh hay tiến sĩ, những người sẽ thỏa mãn cho cái “danh vị quốc gia” mà chính quyền mong muốn. Tôi muốn nói đến giáo dục cơ bản nhất, thứ giáo dục đem lại cho thanh niên Miến Điện cơ hội được làm việc, có một khoản thu nhập đủ sống, bởi vì vấn đề thất nghiệp trong thanh niên Miến Điện hiện nay đang là một quả bom nổ chậm nguy hiểm nhất. Tôi kêu gọi các nhà đầu tư hãy quan tâm đến các trường đào tạo nghề. Hãy xem từ khi mở cửa, dòng người du lịch nước ngoài đã đổ về Miến Điện, trong khi thanh niên của chúng tôi không được đào tạo để phục vụ khách du lịch, và điều đó đã làm cả hệ thống của chúng tôi quá tải.”

Dù có ảnh hưởng chính trị (và đạo đức) to lớn đối với cử tọa, Aung San Suu Kyi thừa hiểu bà đang nói chuyện với cộng đồng những nhà đầu tư quốc tế, những người luôn luôn đặt quyền lợi của họ lên trước quyền lợi của Tổ quốc bà. Bà cảnh báo “Miến Điện không muốn bị áp đặt mô hình phát triển, dù chúng tôi cũng không muốn bị bỏ lại phía sau. Chúng tôi cần đầu tư, nhưng chúng tôi không cần thứ đầu tư sẽ đào sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo, cản trở người dân tiếp cận những lợi ích của cuộc cải cách. Tham nhũng sẽ đi liền với đầu tư, nên trước tiên, chúng ta phải quan tâm đến cải cách hệ thống pháp luật. Không phải thứ luật pháp sinh ra để dành quyền lợi cho một nhóm người, nên đừng chỉ suy nghĩ về luật đầu tư nước ngoài. Miến Điện đã có rất nhiều luật, nhưng nếu không cải cách những điều luật căn bản nhất thì dù Luật đầu tư nước ngoài có ưu đãi quí vị đến đâu, cuối cùng các vị cũng sẽ gặp rất nhiều vấn đề ở khâu thực hiện”

Không phải bàn cãi, Aung San Suu Kyi có ảnh hưởng to lớn tại Hội nghị này. Những phát biểu của bà được đưa ra làm tiền đề cho các cuộc thảo luận nhóm, cho các ý kiến phản biện và tranh luận trên các diễn đàn, nhưng trên hết, từ bà toát ra ảnh hưởng của một thứ “quyền lực mềm” của một lãnh tụ phong trào dân chủ thực sự: quyền lực của sự tha thứ, trí tuệ và đầu óc thực tế. Bà tự cho mình là một người “lạc quan một cách thận trọng” và kêu gọi các đại biểu cần tránh “lạc quan một cách vô trách nhiệm” với tương lai của Miến Điện, nhưng tất cả những người tôi gặp đều tràn đầy hi vọng khi nói về Miến Điện và tương lai dân chủ của đất nước này, niềm hi vọng được họ đặt chủ yếu trên đôi vai mảnh khảnh của Aung San Suu Kyi

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Thông Báo

Ngày 24/10/2010 Dân Luận bị tấn công từ chối dịch vụ (DoS) trở lại, chúng tôi buộc phải bật các cơ chế phòng thủ, khiến độc giả truy cập khó khăn hơn. Xin độc giả hãy gửi các thắc mắc và đóng góp bài vở tới địa chỉ của Ban Biên Tập tại Banbientap@danluan.org.

Chào bạn!

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.

Mến,
Ban Biên Tập Dân Luận

Bài cũ

June 2012
M T W T F S S
« May    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 68 other followers