Dân Luận

không gian mở bày tỏ quan điểm công dân

Lê Công Định – Xã Hội Dân Sự Nhìn từ Bản chất

Lời giới thiệu: Thời gian qua có rất nhiều bài viết về xã hội dân sự (XHDS) được đăng tải góp phần khai dân trí về một đề tài rất quan trọng trong công cuộc xây dựng một nền dân chủ thực chất cho đất nước. Bài này được tôi viết lại từ trình bày của anh Lê Công Định – một người khởi xướng của Phong trào Con đường Việt Nam trong thời gian chúng tôi ở cùng nhau tại trại giam Xuân Lộc vào tháng 7 năm 2010. Xin được trân trọng giới thiệu đến các độc giả, thành viên Phong trào Con Đường Việt Nam với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc cung cấp kiến thức cần thiết cho công cuộc dân chủ hóa đất nước.

Lê Thăng Long

Lê Công Định – Xã Hội Dân Sự Nhìn từ Bản chất

Cần hiểu XHDS ở cả hai góc độ: tính chất và hình thức.

Về hình thức:

Các tổ chức XHDS (Xã Hội Dân Sự) là bất kỳ cách thức tổ chức hoạt động nào để đáp ứng cho các nhu cầu của xã hội mà không nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận và nắm quyền trong các bộ máy nhà nước. Như vậy các doanh nghiệp và các đảng chính trị tìm kiếm nhiệm kỳ cầm quyền hoặc các ghế đại diện trong Quốc hội đều không phải là các tổ chức XHDS. Nhưng các tổ chức hoạt động nhằm gây ảnh hưởng đến các chính sách của chính phủ, của quốc hội để đạt được các mục tiêu về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường…cho một cộng đồng nào đó thì vẫn là các tổ chức XHDS với điều kiện là các tổ chức này không được kiếm lời, kiếm ghế trong các bộ máy nhà nước từ các hoạt động đó. Các tổ chức này thường được biết đến dưới những cái tên như tổ chức phi chính phủ (NGO – non governmentorganization) hay phi lợi nhuận (non – profit organization).

Đây là những hình thức có đăng ký của các tổ chức XHDS với mục đích chủ yếu là để được miễn thuế và có qui mô hoạt tổ chức lớn hơn. Một tổ chức mà được chứng nhận phi lợi nhuận (non-profit status) thì những ai quyên tiền cho nó cũng sẽ được khấu trừ thuế. Khi nó giải thể thì tài sản còn lại của nó không được phép chia cho những người quản lý nó mà phải tặng cho các mục đích từ thiện hoặc chuyển cho những tổ chức có non-profit status khác. Công đoàn cũng là một dạng của tổ chức XHDS có đăng ký.

Tuy nhiên XHDS lại phong phú hơn nhiều nhờ vô số các hình thức không đăng ký. Điều này tạo ra sức sống mãnh liệt của nó, len lỏi vào tất cả mọi ngõ ngách của cuộc sống. Không thể kể hết được các hình thức này. Từnhững câu lạc bộ dưỡng sinh đến hội những người thích xe Vespa cũ, từ những phong trào hippy đến phản đối chiến tranh Việt Nam ở Mỹ,… đều là những hìnhthức hoạt động khác nhau của XHDS.

Về tính chất:

Hoạt động của các tổ chức XHDS chính là việc sử dụng các quyền dân sự của công dân để đáp ứng nhu cầu của mình và giải quyết xung đột lợi ích với những người khác bằng những quan hệ dân sự. Các công dân được tự do sử dụng quyền lập hội, biểu tình, bày tỏ ý kiến để vận động, đòi hỏi các đối tượng khác đáp ứng nhu cầu của mình và cộng đồng. Nếu các đối tượng này vi phạm pháp luật mà xâm hại đến lợi ích của mình và cộng đồng thì công dân có thể khởi kiện các đối tượng đó ra các tòa dân sự. Chúng ta thường nghe nói ở các nước dân chủ, các doanh nghiệp khổng lồ có khi phải bồi thường hàng chục triệu đôla cho một cá nhân vì đã không tuân thủ quy định của luật về an toàn thực phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân đó. Một sự kiện tương tự nếu xảy ra ở một nước thiếu dân chủ, đồng nghĩa với nơi đó XHDS hoạt động yếu ớt, thì sự việc có thể sẽ bị hình sự hóa. Người chủ doanh nghiệp có thể bị tống giam vào tù nếu cá nhân bị ảnh hưởng đến sức khỏe là một người thân thế.

Khi mà quyền con người không được tôn trọng và bảo vệ đúng mức thì XHDS sẽ không có sức sống dù nó vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều nghiên cứu dẫn ra một cách thuyết phục rằng mức độ về sức sống của XHDS là thước đo của mức độ dân chủ của một xã hội. Và mức độ yếu kém của XHDS sẽ tỷ lệ nghịch với mức độ tham nhũng, cửa quyền và toàn trị. Từ điều này dẫn đến cách dùng tính chất của XHDS để mô tả tính chất tồn tại phổ biến của một xã hội. Người ta thường nói xã hội dân sự hay xã hội công dân để mô tả cho một trạng thái của một đất nước đã phát triển dân chủ, thịnh vượng, văn minh ngược lại xã hội cảnh sát (hay hình sự) được dùng để mô tả cho một tình trạng kém phát triển, tham nhũng, nghèo nàn và lạc hậu của một nước trong một chế độ chuyên chế.

Trong một xã hội mà người dân luôn nghĩ đến nhờ công an hoặc tìm kiếm sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước khi giải quyết các xung đột lợi ích của mình thì đó là những biểu hiện đáng lo ngại về sự yếu kém của XHDS và sự hoành hành của xã hội cảnh sát. Không đòi được nợ cũng gọi công an, nghe một bài hát, đọc một tác phẩm mình và nhiều người không thích thì ngay lập tức kêu gọi các cơ quan chức năng vào cuộc. Đây không chỉ là biểu hiện của sự thiếu vắng ý thức công dân để sử dụng quyền con người của mình bình đẳng với người khác, mà còn cho thấy sự bất tin vào hiệu lực của toà án.

Và khi mà cá nhân tham gia vào việc giải quyết xung đột lợi ích lại là những người có quyền lực, thân thế thì chắc chắn một điều là phần thắng luôn thuộc về họ đồng thời với sự bóp méo làm bất công các quan hệ xã hội. Tệ hơn nữa nó làm thui chột mọi sức sáng tạo cho những cái mới ra đời.

XHDS không thể có sức sống và đóng góp vào sự phát triển tốt đẹp của xã hội nếu các quyền con người không được bảo vệ bình đẳng cho tất c ảmọi người. Muốn như vậy thì toà án phải độc lập trong một nhà nước pháp quyền mà trách nhiệm bảo vệ cho từng công dân có thể sử dụng đầy đủ các quyền con người của mình phải là ưu tiên trên hết của nó. Mức độ cấm đoán, xâm phạm các quyền này quyết định mức độ chuyên chế của các chế độ. Các chế độ độc tài (dictatorship, thường do một người) thường chỉ cấm đoán hoạt động của một số tổ chức XHDS như công đoàn, tôn giáo hoặc hạn chế rõ ràng một số các quyền con người như biểu tình, tự do báo chí…

Nhưng các chế độ toàn trị (totalitarianism, thường do một đảng) thì lại tự tổ chức ra tất cả các hình thức giống như XHDS nhưng phải hoạt động theo sự điều khiển của chính quyền. Ở các nơi này không thiếu các công đoàn, cơ quan thông tấn báo chí nhưng nhất mực đều phải chịu sự chi phối hoàn toàn của chính quyền.

Các quyền con người cũng không được công bố rõ là hạn chế như thế nào, nhưng muốn sử dụng các quyền này thì phải thông qua các tổ chức kiểu như trên. Do vậy trên thực tế mức độ cấm đoán các quyền tự do còn nghiêm trọng hơn nhiều so với trong các chế độ độc tài.

Cho nên muốn đánh giá một tổ chức có thực là XHDS hay không thì phải xem xét thực chất từ việc thành lập và hoạt động của nó độc lập đến mức độ nào đối với chính quyền. Tức là phải xem xét vào tính chất chứ không phải hình thức hay tên gọi của nó.

Cần chú ý một điều quan trọng là các tổ chức XHDS nói riêng hay một xã hội dân sự (hoặc xã hội công dân) nói chung là sự hình thành từ dưới lên, chứ không phải áp đặt từ trên xuống. Thông qua việc sử dụng quyền con người để đáp ứng các nhu cầu của mình, các công dân sẽ tự hợp lại với nhau thành từng nhóm. Đầu tiên là nhỏ.

Nhưng nếu thấy cần giải quyết các nhu cầu lớn hơn, phức tạp hơn, cho một cộng đồng to hơn thì sẽ thúc đẩy họ đến sự cần thiết phải hình thành nên một tổ chức có đăng ký để có thể huy động những nguồn lực lớn hơn. Có thể nói đây là sự hình thành tự nhiên trong một môi trường mà quyền con người được bảo vệ bình đẳng. Những quyết định hoặc ảnh hưởng từ nhà nước để hình thành nên các tổ chức có mục đích dân sự thì sẽ không thể là tổ chức XHDS.

Cuối cùng thì quyền con người vẫn là cái gốc, nền tảng cho cả XHDS, nhà nước pháp quyền và thị trường tự do. Do đó Quyền Con Người mới là mục tiêu tối thượng của phong trào Con đường Việt Nam.

Lê Công Định (Tháng 7/2010)
Lê Thăng Long viết lại – tháng 9 năm 2012

Con Đường Việt Nam @ 2012

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Lê Đăng Doanh – Gỡ mớ bòng bong sở hữu chéo

httpwwwthesaigontimesvnuploadsarticles82781bca0610405jpg.jpg

Sở hữu chéo gây ra nhiều hệ lụy, trước hết là tạo ra luồng vốn tưởng là góp “tiền tươi, thóc thật” (equity) nhưng thực chất là vốn vay lẫn nhau. Điều này tạo nên lượng “vốn ảo” trong hệ thống ngân hàng thương mại.

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có quá trình phát triển vượt bậc cả về số lượng các ngân hàng lẫn về tổng mức tín dụng trong những năm qua. Số ngân hàng thương mại cổ phần lên đến 84 ngân hàng năm 1997 và được sắp xếp lại còn 35 ngân hàng thương mại cổ phần tính đến ngày 15-6-2012 (nguồn: Ngân hàng Nhà nước), tỷ lệ tín dụng trên GDP đã từ 35% năm 2000 tăng vọt lên 125% năm 2010 (nguồn: Ngân hàng Thế giới), một tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực.

Thực trạng và hệ lụy chưa được làm rõ đầy đủ

Nhiều ngân hàng tỉnh đã được nâng cấp thành ngân hàng quốc gia, có số vốn tăng nhanh đáng ngạc nhiên, trong đó có góp phần của sở hữu chéo giữa các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, công ty đầu tư. Bức tranh rất phức tạp và nhiều biến động này hiện nay cần được làm rõ.

Trước hết phải nhắc đến là trong cao trào đầu tư ra ngoài ngành chính, cốt lõi của mình, nhiều tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước đã đầu tư vào các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, bất động sản.

Thí dụ như tập đoàn Điện lực EVN đầu tư vào Ngân hàng An Bình với 24,3%, tập đoàn Dầu khí Petro Việt Nam đầu tư vào Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu, hai tập đoàn kinh tế nhà nước là Than-Khoáng sản và tập đoàn Cao su có phần hùn trong Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội với tỷ lệ mỗi tập đoàn sở hữu hơn 6%, tập đoàn Dệt – May, tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT đều có đầu tư vào các ngân hàng thương mại.

Mặt khác các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước như Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương (VietinBank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) đều sở hữu các ngân hàng thương mại cổ phần khác. Sở hữu chéo ở đây là sở hữu của một pháp nhân hay thể nhân kinh doanh ngành chính phi ngân hàng nhưng đầu tư có cổ phần đa số hay có khả năng chi phối, kiểm soát ngân hàng đó.

Trong khu vực tư nhân, bức tranh còn phức tạp hơn rất nhiều. Thí dụ như Ngân hàng TMCP ACB đang góp vốn vào các ngân hàng TMCP khác như Đại Á, Kiên Long, Việt Nam Thương Tín.

Trước hết, sở hữu chéo như thế đã cho phép nhiều ngân hàng cấp tỉnh lách được quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP về mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, theo đó vốn điều lệ thực góp của các ngân hàng phải đạt 1.000 tỉ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỉ đồng vào năm 2010.

Thông qua sở hữu chéo, cổ đông của ngân hàng A có thể vay tiền ngân hàng B thông qua một công ty đầu tư tài chính của mình để góp vốn vào ngân hàng A và cổ đông của ngân hàng B cũng sử dụng công ty đầu tư tài chính của mình để vay ngược lại ngân hàng A.

Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp “tiền tươi, thóc thật” (equity) nhưng thực chất là vốn vay lẫn nhau. Điều này tạo nên lượng “vốn ảo” trong hệ thống ngân hàng thương mại mà quy mô thực của nó chưa được làm rõ.

Hệ lụy thứ hai rất quan trọng mà Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng hiện hành có quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần: một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng, trừ một số trường hợp đặc biệt; cổ đông và những người liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng nhằm hạn chế sự thâu tóm ngân hàng trái pháp luật. Kinh nghiệm thực tế cho thấy thông qua những pháp nhân và thể nhân khác, một cá nhân có thể sở hữu vượt quy định này.

Sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các ngân hàng thương mại có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án (dưới chuẩn ) của doanh nghiệp hay ngân hàng “sân sau” của mình. Nguy cơ là quy định bị “vượt rào”, bộ máy sàng lọc theo tiêu chí hiệu quả đầu tư vốn rất nghiêm ngặt của hệ thống ngân hàng thương mại có thể bị tê liệt hay trở nên hình thức. Nguy cơ này đang tiềm ẩn trong vô số các dự án bất động sản đã mọc lên như nấm trong những năm gần đây và nay đang đối mặt với nguy cơ không thể trả được nợ.

Điều các nước rất thận trọng là tách bạch rõ ràng giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Thông tư 13/2010/TT-NHNN cũng quy định hoạt động ngân hàng đầu tư phải được tách bạch khỏi hoạt động của ngân hàng thương mại.

Theo đó, ngân hàng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc hoạt động kinh doanh chứng khoán. Sử dụng quyền sở hữu chéo, ngân hàng A có thể dễ dàng lách quy định này bằng cách tác động qua các kênh khác nhau để ngân hàng B (mà ngân hàng A đang đồng sở hữu) mua trái phiếu của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ của ngân hàng A. Tình trạng “rối loạn” tài chính đã trở thành hiện thực. Cách kinh doanh của ông Nguyễn Đức Kiên đã được báo chí phanh phui trong khi lập ba công ty, lập dự án kinh doanh khống để vay vốn ngân hàng có thể coi là một “đỉnh núi băng” lộ ra trên mặt nước.

Sở hữu chéo cũng cho phép ngân hàng A giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (mà ngân hàng A có sở hữu) cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro tương ứng. Đó cũng là một trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Chắc chắn rằng còn có thể tiếp tục bổ sung thêm những hệ lụy khác nữa như họ có thể liên kết với nhau để thao túng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, song các điều này cũng đã đủ để làm an toàn của hệ thống ngân hàng và chất lượng tín dụng của nước ta bị giảm sút đáng kể. Cũng phải lưu ý là chính khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ năm 2008 và ở châu Âu hiện nay đều đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ nhanh chóng lan rộng thành khủng hoảng kinh tế với giá rất đắt về kinh tế và xã hội.

Giải pháp gì?

Câu hỏi đề ra là tại sao có quy định pháp luật tương đối đầy đủ trên giấy tờ nhưng việc lách luật lại có thể diễn ra trên quy mô lớn và lâu đến như vậy? Có “lợi ích nhóm” và “tư duy nhiệm kỳ” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập đến trong trường hợp này không?

Chắc chắn rằng đề án tái cấu trúc ngân hàng thương mại của Ngân hàng Nhà nước sẽ không chỉ giải quyết khoản nợ xấu đang cản trở dòng lưu thông vốn giữa ngân hàng và doanh nghiệp mà còn phải đề cập đến nhiều vấn đề trọng yếu khác, trong đó có việc sở hữu chéo này.

Hiện nay, cơ quan giám sát tài chính-ngân hàng-chứng khoán-bất động sản chưa liên thông, mỗi mảng do một cơ quan riêng biệt đảm trách nên bức tranh toàn cảnh của sở hữu chéo khó được phát hiện và chấn chỉnh. Cải cách thể chế nhà nước quản lý, giám sát hệ thống tài chính – ngân hàng phải được thực hiện đồng bộ, bảo đảm sự giám sát thông suốt giữa ngân hàng-chứng khoán-bất động sản là rất cần thiết để làm rõ bức tranh phức tạp đã hình thành và tìm cách ngăn chặn sự lặp lại sở hữu chéo trong tương lai.

Theo TBKTSG

________________________

Ma trận về sở hữu chéo khu vực ngân hàng Việt Nam

Có thể nói rằng kể từ 2005 tới nay, sự tăng trưởng nhanh chóng của các NHTM cổ phần đã đi kèm với việc hình thành một cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng với doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng.

Như minh họa trong Sơ đồ, rất nhiều công ty lớn không nằm trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước và các tập đoàn cổ phần, hiện đang đầu tư dài hạn như những nhà sáng lập hoặc nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM cổ phần. Các ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau. Sở hữu cổ phần đan chéo giữa các ngân hàng một phần là di sản của những cố gắng tái cấu trúc trước đây, nhưng quan trọng hơn, hiện tượng này phản ánh những quyết định kinh doanh chiến lược của họ. Sơ đồ này mới chỉ tính tới sở hữu trực tiếp giữa các ngân hàng và các tổ chức kinh tế. Bức tranh sẽ còn phức tạp hơn nhiều nếu đưa vào sở hữu gián tiếp thông qua công ty thứ ba và sở hữu chéo của cá nhân hay gia đình.

Ví dụ, Techcombank được sở hữu trực tiếp bởi Masan (19,7%), HSBC (19,6%), và Việt Nam Airlines (2,8%). Các quy định hiện hành ngăn cản ngân hàng cho chính các cổ đông của mình vay vốn. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lách quy định này bằng cách cho công ty con thay vì cho công ty mẹ vay. Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và In-đô-nê-xia đều đã gánh chịu những khó khăn kinh tế nặng nề do hệ quả của tình trạng sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Vì cho vay theo quan hệ nên ngân hàng không đảm nhiệm tốt chức năng thẩm định và giám sát cẩn trọng các khoản vay của các công ty cổ phần này và hệ quả là nảy sinh rất nhiều khoản nợ xấu.

Công ty Chứng khoán ACB là một công ty con 100% của Ngân hàng Á Châu (ACB). Ngân hàng Quân đội (MB) sở hữu 62% Công ty Chứng khoán Thăng Long. Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam cũng sở hữu 3% của Techcombank, có nghĩa là Petro Việt Nam (PVN) cũng có cổ phần trong ngân hàng. Trên thực tế, theo thông tin công bố thì Ngân hàng An Bình đã cho vay hoặc đã mua trái phiếu của các công ty con thuộc tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Công ty viễn thông Viettel cũng là tổ chức vay vốn quan trọng của Ngân hàng Quân đội.

So với tình hình sở hữu liên kết giữa ngân hàng – doanh nghiệp thì tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng đặt ra những rủi ro thậm chí còn lớn hơn và mang tính hệ thống đáng lo ngại hơn. Bởi vì vấn đề thanh khoản và khả năng trả nợ của một ngân hàng có thể kéo theo những vấn đề tương tự ở rất nhiều các ngân hàng khác. Nhìn vào Sơ đồ, ngoại trừ phần sở hữu của các ngân hàng nước ngoài, sở hữu chéo giữa các ngân hàng trong nước không có bất kỳ một lý do chiến lược rõ ràng nào. Tuy nhiên, nhìn kỹ vào cấu trúc sở hữu và báo cáo tài chính của các ngân hàng thì có thể thấy việc sở hữu chéo là để tạo điều kiện cho vay theo quan hệ cũng như lách các giới hạn cho vay của NHNN.

tumblr_m9yztrwjpl1qznvd7o1_1280.jpg
Bấm vào đây để xem hình lớn hơn…

Bởi vì công ty X sở hữu ngân hàng A mà ngân hàng A lại sở hữu ngân hàng B nên công ty X có thể vay được ở ngân hàng B thay vì vay trực tiếp ở ngân hàng A. Một hiện tượng mới nữa trong các năm gần đây là việc sử dụng ủy thác đầu tư của các ngân hang trong cơ cấu sở hữu chéo. Trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng lớn là nguồn tài trợ thường xuyên cho các ngân hàng nhỏ hơn, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ thuộc sở hữu của chính các ngân hàng lớn này. Các ngân hàng nhỏ hơn sử dụng vốn huy động được cho các công ty ủy thác đầu tư vay như là các quỹ đầu tư, các công ty quản lý quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán. Đa số các công ty này lại thuộc sở hữu của các ngân hàng. Phần lớn nguồn vốn này được đưa vào thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán, bao gồm cả các loại hình giao dịch phái sinh. Việc sụt giảm giá trên các thị trường này đã và đang tạo nên những khoản đầu tư thua lỗ đáng kể và những khoản nợ xấu có thể là rất lớn nhưng khó định lượng chính xác ở các ngân hàng. Bằng chứng rõ ràng về vấn đề này mới chỉ được thể hiện một cách tập trung trong một vài ngân hàng nhỏ.

Vfpress/VELP

________________________

Rủi ro tiềm ẩn từ sở hữu chéo ngân hàng

Hiện nay, nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn và giá cổ phiếu rất thấp. Đây là điều kiện thuận lợi cho “mạng nhện” sở hữu chồng chéo giữa các ngân hàng tiếp tục lan tỏa.

Lách luật bằng “mạng nhện”

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định một cổ đông cá nhân không được sở hữu quá 5% và một tổ chức không quá 15% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trước đó tỷ lệ này lần lượt là 10% và 20%. Tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN, quy định “Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó”.

Sở dĩ Luật các tổ chức tín dụng và thông tư quy định giảm tỷ lệ sở hữu cá nhân và tổ chức xuống là nhằm làm cho ngân hàng có tính đại chúng hơn. Ngoài ra, các nhà quản lý lo ngại sự mất an toàn của hệ thống do tình trạng sở hữu chéo hoặc khi một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tỷ lệ lớn có thể lũng đoạn ngân hàng.

Tuy nhiên, thực tế những người muốn sở hữu tỷ lệ lớn hơn quy định không khó. Người chủ sở hữu thực sự có thể không cần đứng tên mà vẫn chi phối ngân hàng thông qua một người thứ ba. Bên cạnh đó, tình trạng đầu tư “lòng vòng” giữa các ngân hàng với nhau tạo thành một “mạng nhện” cũng khá phổ biến. Chẳng hạn một ngân hàng A nào đó đầu tư vào ngân hàng B, B đầu tư cho ngân hàng C, rồi C lại đầu tư vào A. Việc đầu tư chéo này có thể công khai trên sổ sách nhưng cũng có thể là không.

Thực tế, việc tìm thông tin về các tổ chức tín dụng mua cổ phần của các tổ chức tín dụng khác là điều hết sức khó. Rất ít ngân hàng công khai tỷ lệ đầu tư vào các tổ chức tín dụng khác. Những trường hợp công bố chính thức như Vietcombank, Vietinbank không nhiều. Không những vậy, những con số cũng có thể chưa phản ánh hết thực tế việc sở hữu giữa các ngân hàng.

Thuyết minh báo cáo tài chính của ACB cho thấy số tiền đầu tư vào tổ chức tín dụng khác của ngân hàng này lên tới 950 tỉ đồng, tuy nhiên không ghi rõ đây là những tổ chức nào. Ngoài ra, ACB còn có số tiền đầu tư dài hạn là 3.144 tỉ nhưng không cho biết có bao nhiêu tiền đầu tư vào các tổ chức tín dụng. Có lần một lãnh đạo cao cấp của ACB tuyên bố là “cổ đông chính của Eximbank” song số liệu chính thức được biết đến thì ACB chỉ sở hữu 1,04% vốn điều lệ của Eximbank. Ngoài ra, trong giới tài chính còn cho rằng ACB đang nắm một lượng khá lớn cổ phần các ngân hàng khác như Đại Á, Việt Á, Kiên Long, Sacombank, Techcombank…

Năm 2010, vốn điều lệ của Ngân hàng Phương Nam chỉ khoảng 2.500 tỉ đồng, nhưng có con số đầu tư vào tổ chức tín dụng khác đến thời điểm 31-12-2010 lên tới 595,63 tỉ đồng (theo thuyết minh báo cáo tài chính 2010). Tuy nhiên, không có chi tiết là Phương Nam đang đầu tư vào những tổ chức tín dụng nào.

Như vậy, giữa quy định trong luật và thực tế là một khoảng cách khá xa. Dù có bị giới hạn về tỷ lệ sở hữu thì cá nhân và tổ chức tín dụng vẫn có trăm ngàn cách để lách.

Những rủi ro từ việc sở hữu chéo

Giữa năm 2010, ước tính số vốn để các ngân hàng tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 3.000 tỉ đồng theo quy định của pháp luật vào khoảng hơn 30.000 tỉ đồng. Bất chấp sự khó khăn của thị trường tài chính, cuối cùng tất cả các ngân hàng cũng đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia đánh giá số vốn này “không thực chất” do các ngân hàng sở hữu chéo lẫn nhau hoặc các “ông chủ” dùng tiền vay để tăng vốn. Hệ quả là vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống tăng mạnh nhưng vốn thực góp lại không tăng tương ứng. Điều này đồng nghĩa với các hệ số đo lường độ an toàn của các ngân hàng như CAR, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản… không còn chính xác.

Bên cạnh đó, một rủi ro cần được tính đến là tình trạng cho vay thiếu kiểm soát có thể tăng mạnh. Chẳng hạn khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết. Ngoài ra, không loại trừ trường hợp lãnh đạo của ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lực buộc ngân hàng mà mình có thể chi phối cấp tín dụng để phục vụ lợi ích cá nhân.

Một rủi ro khá lớn khác là khi các ngân hàng hình thành một “mạng nhện” thì sẽ nảy sinh độc quyền nhóm. Liên minh ngân hàng này có thể đủ sức mạnh để chi phối lãi suất, tỷ giá và kể cả chính sách. Điều này có thể gây xáo trộn trên thị trường và thiệt hại cho nền kinh tế.

Tuy nhiên ở một góc nhìn khác, công bằng mà nói, những ngân hàng nhỏ cũng được hưởng lợi khi ngân hàng lớn đầu tư vào, tuy nhiên trong những trường hợp như vậy cần phải có quy định, giám sát chặt chẽ, minh bạch thông tin để hạn chế những tiêu cực phát sinh.

(theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn)

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Trần Đức Việt – Chủ nghĩa Mác – Lênin không đáp ứng yêu cầu thời đại

Tôi nhận được thư điện tử của một số bạn sinh viên muốn trao đổi ý kiến. Theo các bạn hiện nay trong các trường đại học, sinh viên vẫn đang phải học môn chủ nghĩa Mác-Lênin, khi tốt nghiệp vẫn phải thi chính trị quốc gia. Nếu không học để kết quả kém thì cũng không được. Nhưng nếu học thật chăm chỉ, liệu có “ngấm” tư duy kiểu Mác-Lênin, sau này khi ra trường áp dụng tư duy này vào xử lý công việc, có gây hại cho xã hội một cách không tự giác hay không? Các bạn muốn trao đổi làm rõ giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đúng sai thế nào? Còn áp dụng được hay không? (Ít ra cũng để yên tâm trong học tập). Nếu cho chủ nghĩa Mác-Lênin là sai thỉ giải thích thế nào về những thành công của hệ thống xã hội chủ nghĩa suốt hơn 70 năm? Nếu cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là đúng thì giải thích thế nào về sự sụp đổ của hệ thống XHCN?

Nhu cầu của các bạn là rất chính đáng, nhưng khó đáp ứng. Vì trình độ tôi có hạn, không đủ tầm để giải đáp việc này. Với lại nói với nhau về vấn đề như chủ nghĩa Mác-Lênin thì tốn rất nhiều thời gian, khó đi đến thống nhất chung. Dù sao các bạn cũng đã hỏi, tôi xin trao đổi lại bằng ý kiến cá nhân, ở mức đơn giản nhất. Xin nhắc lại, đây là ý kiến cá nhân, chỉ để tham khảo.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là thuật ngữ được ông I.V. Stalin đưa ra sau khi V.I. Lênin mất, được coi là “khoa học về chiến tranh và cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời đại chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang Chủ nghĩa Cộng Sản”. Ngày nay, nhiều người không coi chủ nghĩa Mác-Lênin là một khoa học, vậy nó là gì? Về phần tôi, xin nói nhanh:

  1. Chủ nghĩa Mác-Lênin là môn giả khoa học, phản tôn giáo;
  2. Chủ nghĩa Mác-Lênin không đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại.

* * *

1. Chủ nghĩa Mác-Lênin là môn giả khoa học, phản tôn giáo

Vào thế kỷ XIX, thành công của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tác động đến mọi mặt đời sống, trong đó có các môn nghiên cứu về xã hội. Thuật ngữ “khoa học” lúc đó để chỉ một môn nghiên cứu đúng đắn, tránh được các sai lầm. Vậy thế nào là “khoa học”? Từ điển Bách khoa Việt Nam xem khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, thể hiện bằng khái niệm, phán đoán, học thuyết. Khoa học gồm có tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận, phương pháp, giả thuyết và kết luận. Định nghĩa như vậy, theo tôi, mới chỉ mô tả các bộ phận cấu thành khoa học, chưa nêu tiêu chí phân biệt khoa học với các môn không phải là khoa học nên không giúp người học phân biệt rõ khoa học với mê tín, với các môn giả danh khoa học. Các nhà khoa học tự nhiên định nghĩa khoa học chặt hơn nhiều, nói ngắn gọn và dễ hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức về một số đối tượng nghiên cứu; các đối tượng này có tính thống nhất trong toàn hệ thống, tuân theo luật bài trung; thể hiện qua các phán đoán có thể kiểm tra được. Khoa học chia ra làm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trong khoa học tự nhiên, người ta kiểm tra các phán đoán bằng cách đo lường. Chẳng hạn, để kiểm tra sức khoẻ người ta đo dung tích phổi, cân nặng, chiều cao, lực bóp ở tay…Từ đó người ta xác định được người khoẻ và yếu trong tập hợp người. Trong khoa học xã hội, người ta kiểm tra phán đoán bằng cách theo dõi xem các đối tượng nghiên cứu có phù hợp với thực tiễn không? Dù là khoa học tự nhiên hay xã hội, người nghiên cứu cũng phải xác định được phạm vi áp dụng của mỗi phán đoán.

Tôi lấy ví dụ: Trong triết học có quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổi”. Khi tôi học đại học, các thầy dạy triết dẫn chứng, nếu tăng nhiệt độ của nước thì đến lúc nào đấy nước từ thể lỏng chuyển sang thể khí (nước sôi và bay hơi). Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi đúng. Thế nhưng nếu bây giờ thay vì đun nóng nước, chúng ta đổ dần nước vào nồi chứa, rõ ràng “lượng” tăng dần nhưng “chất” thì không đổi. Quy luật sai chăng? Nếu nói quy luật sai thì tại sao trường hợp đun nóng nước lại đúng? Vấn đề ở chỗ các quy luật đều có “phạm vi áp dụng” nhất định. Quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổi” áp dụng được cho trường hợp trước nhưng không áp dụng được cho trường hợp sau. Bạn sẽ hỏi: Vậy làm thế nào để biết có áp dụng được hay không? Cái đó do các khoa học cụ thể giải quyết, chẳng hạn ví dụ trên thì môn hoá học, hoặc nhiệt động học sẽ giải đáp. Ví dụ trên cho chúng ta biết triết học nghiên cứu về các quy luật chung nhất của tự nhiên nhưng không thay thế được các khoa học cụ thể (Nhiều người cho rằng học xong môn triết học trong trường Đảng ra là biết hết mọi thứ, làm được mọi việc, thực ra là tư duy phản khoa học). Nếu có ai đó khăng khăng áp dụng “lượng đổi dẫn đến chất đổi” bằng cách đổ nước cho đầy lên thì ta gọi là anh chàng…giáo điều. (Bây giờ xin được mở rộng vấn đề chút ít. Khi học hoá học hữu cơ, các bạn làm quen với thuyết Bút-lê-rốp mà nội dung cơ bản là: Thay đổi thứ tự, cách sắp xếp của nguyên tử các-bon thì cũng tạo ra chất mới. À, thế thì chúng ta phát hiện ra một quy luật: cấu trúc thay đổi dẫn đến chất đổi. Vậy ra quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổi” không bao quát hết cách thay đổi về chất trong tự nhiên).

Khi đã có khái niệm về khoa học rồi thì tự nhiên người ta sẽ hỏi: Khoa học hình thành như thế nào? Trong các bài giảng triết học, các thầy hay tổng kết: Tri thức đi từ thực tiễn lên “biểu tượng” và lại trở về thực tiễn. Nói như vậy không rõ vấn đề. Tôi tóm tắt theo cách khác, trước hết bạn cần phân biệt “khoa học” với những “suy luận có lý”. Định nghĩa khoa học như Từ điển Bách khoa theo tôi chỉ nên gọi là “suy luận có lý”. Tri thức tổng kết từ thực tiễn thành các khái niệm, suy lý, phán đoán là các “suy luận có lý”. Khi các “suy luận có lý” kiểm nghiệm được thì trở thành “khoa học”. Những suy luận có lý không kiểm nghiệm được thì “đứng im” ở tầm mức “sau luận có lý”, hoặc phát triển thành tôn giáo, hoặc thành môn “giả khoa học”. Ví dụ: trong Kinh Thánh có lời dạy như thế này: Kẻ nào vừa cày ruộng vừa khóc trên cánh đồng của mình thì khi thu hoạch sẽ được cười. Nhiều trăm triệu người, thông qua kinh nghiệm của mình đã tin vào phán đoán này (cơ sở của tôn giáo là niềm tin). Đó chính là một suy luận có lý, tổng kết từ thực tiễn hoạt động trong nghề nông, tuy nhiên, không phải là khoa học. Vì sao vậy? Vì nếu bây giờ thay đổi điều kiện chút ít, nếu người cầy ruộng vừa làm vừa khóc nhưng không đúng kỹ thuật nghề nông thì sẽ không được cười lúc thu hoạch. Cái cốt yếu ở đây là làm việc đúng kỹ thuật đã không được nêu ra trong phán đoán trên. Bây giờ sửa lại câu nói trên: Người nào làm việc chăm chỉ, đúng kỹ thuật trên cánh đồng của mình thì khi thu hoạch sẽ được cười. Đây là một phán đoán khoa học, kiểm tra được, có thể yên tâm đưa vào “khoa học trồng trọt” mà không sợ sai. Tôi lấy thêm ví dụ khác. Truyện Khổng tử kể: Một hôm Khổng tử đi đường gặp hai đứa trẻ 7 tuổi tranh luận với nhau, chúng nhờ ông phân xử xem ai đúng, ai sai? Một đứa nói: Mặt trời buổi trưa xa mặt đất hơn buổi sớm vì trông nhỏ hơn. Đứa kia nói: Mặt trời buổi trưa gần mặt đất hơn buổi sớm vì buổi trưa nóng hơn. Khổng tử nghĩ một hồi rồi chịu, không phân giải được. Bây giờ chúng ta sẽ xét ví dụ này với tư duy “khoa học”. Đứa trẻ thứ nhất đưa ra “suy luận có lý” sau: Vật ở càng xa trông càng nhỏ. Đây là suy luận rút từ rất nhiều lần quan sát sự vật về độ xa gần, nó là “tri thức kinh nghiệm”. Áp dụng “suy luận có lý” này vào trường hợp mặt trời, đứa bé đưa ra phán đoán: Mặt trời buổi trưa xa mặt đất hơn buổi sớm. Đứa bé thứ hai lại xuất phát từ một “tri thức kinh nghiệm” khác là càng gần bếp thì càng nóng để có “suy luận có lý” rằng: Càng gần nguồn nhiệt thì càng nóng. Áp dụng “suy luận có lý” này vào trường hợp mặt trời, đứa bé đưa ra phán đoán: Mặt trời buổi trưa gần mặt đất hơn buổi sớm. Cả hai đứa bé đều áp dụng “suy luận có lý”, khái quát hoá từ trường hợp cụ thể để đưa ra phán đoán. Các suy luận có lý này đều đúng, nhưng khi áp dụng trong trường hợp xét độ xa của mặt trời thì lại sai. Vì sao vậy? Vì đó chỉ là những suy luận có lý, chưa kiểm tra được, tức là chưa thành “khoa học”. Để trở thành khoa học, cần phải có cách kiểm tra, định lượng được. Đối với đứa bé thứ nhất, phải chỉ ra được phạm vi áp dụng của “suy luận có lý” là đúng với khoảng cách nào? Từ khoảng cách nào thì không áp dụng được do hiện tượng “thị sai” của con mắt? Tương tự, ảnh hưởng quyết định của nguồn nhiệt chỉ có giá trị với khoảng cách gần, chứ không có ý nghĩa lớn với khoảng cách xa. Bằng kiến thức vật lý hiện đại (trước đây môn vật lý được gọi là triết học tự nhiên), chúng ta đánh giá được câu chuyện của Khổng tử với hai đứa bé. Khoảng cách mặt trời với trái đất khoảng 150 triệu km, trong khi từ buổi sớm đến trưa chúng ta “gần” thêm với mặt trời được 6300 km (bán kính trái đất), do đó mắt không phát hiện được sai lệch về kích thước của mặt trời. Việc chúng ta thấy mặt trời buổi trưa bé hơn buổi sáng là do lỗi “thị sai” của con mắt, không thể dùng nó để đánh giá độ xa của mặt trời. Với đứa bé thứ hai thì nhầm lẫn ở chỗ lượng nhiệt đến mặt đất. Lượng nhiệt này quyết định bởi “góc nghiêng” cùa tia mặt trời với mặt đất, độ xa gần có ảnh hưởng nhưng không phải là quyết định (lượng nhiệt tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách). Việc buổi trưa thấy nóng hơn là vì ảnh hưởng của lượng nhiệt do mặt đất hấp thu được và toả ra. Đánh giá tất cả các yếu tố kể trên, định lượng bằng công thức để kiểm tra được thì “suy luận có lý” của hai cậu bé sẽ trở thành khoa học, có thể dùng để khảo sát các trường hợp thực tiễn. Các suy luận có lý không được nghiên cứu đến cùng thì sẽ tạo ra tôn giáo hoặc các môn giả khoa học. Ví dụ trước đây ở châu Âu có môn giả kim thuật, với mục tiêu tìm ra “hòn đá triết lý” có thể biến mọi chất thành vàng. Môn giả kim thuật hoàn toàn thất bại, không ai có thể tìm được “hòn đá triết lý” nhưng các suy luận có lý của môn này thì lại tạo ra môn hoá học, là một khoa học chính xác.

Chúng ta trở lại với đề tài đang bàn: Chủ nghĩa Mác-Lênin có phải là khoa học không?

Chủ nghĩa Mác-Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Phần triết học, chủ nghĩa Mác-Lênin kế thừa triết học Mác, còn Mác thì lấy phép biện chứng của triết học Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật Phơ-bách tạo ra triết học của mình với tên gọi triết học duy vật biện chứng. Triết học Mác kế thừa Hê-ghen, nhưng “đảo ngược” Hê-ghen bằng cách thừa nhận vật chất có trước và quyết định ý thức. Như vậy, Mác chỉ “khác biệt” ở chỗ công nhận vai trò quyết định của vật chất, toàn bộ phần còn lại của triết học Mác chính là Hê-ghen, là Phơ-bách. Các bạn không có điều kiện học tập trực tiếp từ Hê-ghen, Phơ-bách thì cứ học gián tiếp qua Mác cũng không hại gì. Lênin thừa nhận triết học Mác và làm rõ thêm nhiều điểm trong lý luận của Mác nên các bạn vẫn học tập được, sử dụng được. Bất kỳ môn học nào cũng chỉ trao cho bạn phương pháp nghiên cứu, kết luận cụ thể là do bạn quyết định. Tôi trở lại với quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổi”, chẳng hạn bạn biết là tăng nhiệt độ thì đến lúc nào đó chất rắn chuyển thành chất lỏng. Nhưng nếu cứ lấy chất rắn đun nóng và khăng khăng sẽ thành chất lỏng thì lại nhầm. Chất i-ốt ở nhiệt độ cao trực tiếp bay hơi không qua thể lỏng. Khoa học chỉ giúp bạn con đường tìm chân lý chứ không trao thẳng chân lý cho bạn.

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin có thể thấy ở giai đoạn đầu (trước Cách mạng tháng Mười Nga) môn này được nhiều người xem là một khoa học (vì vậy mới tạo ra được một trào lưu xã hội lớn mạnh). Trong quá trình phát triển, Lênin và đồng sự đưa ra nhiều phán đoán không kiểm tra được, phải mất nhiều thời gian mới thấy rằng các phán đoán đó không phù hợp với thực tiễn, tức là sai. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu của Quốc tế II nói đại ý: Cách mạng vô sản chỉ xẩy ra khi giai cấp vô sản chiếm đa số trong dân cư, xã hội đã ở một trình độ phát triển cao về kinh tế, vì vậy, cần tập trung đấu tranh phát triển kinh tế rồi mới làm cách mạng cướp chính quyền. Lênin bác lại, cho rằng: Cứ cướp chính quyền đi, rồi “đi hia bẩy dặm” vào phát triển kinh tế. Thuật ngữ “đi hia bẩy dặm” mượn từ chuyện cổ tích Con mèo đi hia, trong đó nhân vật chính là con mèo có cặp hia mỗi bước đi được bẩy dặm đường. “Suy luận có lý” này của Lênin một thời được xem là chân lý, nhưng sau Cách mạng tháng Mười thì chẳng có cái “hia bẩy dặm” nào trong thực tế. Suốt 70 năm tồn tại của chính quyền xô-viết vấn đề phát triển kinh tế luôn luôn là chỗ khó nói của lý luận Mác-Lênin. Vào thời kỳ Stalin nắm chính quyền, ông nêu ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội với nội dung: Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, sản xuất tăng không ngừng, tạo ra sản phẩm dồi dào đáp ứng mọi nhu cầu xã hội. Quy luật này hiện vẫn được dạy trong các bài học ở trường đại học, nhưng thời gian chỉ ra nó không phù hợp với thực tiễn, tức là sai. Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin phát triển đến năm 1960 thì… không phát triển nữa. Xem lại các vấn đề lý luận chúng ta thấy từ sau 1960, các sách báo, tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin gần như không có gì mới so với giai đoạn trước. Nhiều kết luận cũ rích từ thế kỷ trước như: giai đoạn giẫy chết của chủ nghĩa tư bản, đêm trước của cách mạng vô sản, mâu thuẫn không thể điều hoà giữa tư bản và vô sản… được bê nguyên xi vào bài giảng, không chứng minh. Trong khi đó thực tiễn sinh động đang chứng minh điều ngược lại. Chẳng hạn suy luận có lí “mâu thuẫn không thể điều hoà giữa tư bản và vô sản” đang bị phủ định khi các nhà tư bản sáng tạo ra chế độ “góp cổ phần”. Công nhân cũng có thể mua cổ phần và trở thành cổ đông đối với công ty. Nếu chủ nghĩa Mác-Lênin là một khoa học thì phải xoá tín điều “mâu thuẫn không thể điều hoà…” kia đi. Nhưng các nhà lý luận mác-xít khư khư giữ lấy tín điều nói trên. Có thể lấy nhiều ví dụ khác tương tự trong các “suy luận có lý” đã cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều đó có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin từ vị trí một khoa học đã trở thành giả khoa học. Cũng giống như môn giả kim thuật, dù chứa đựng một số “suy luận có lý” có giá trị, đến nay chủ nghĩa Mác-Lênin đã hết vai trò “lý luận tiên phong”. (Có thể nói vui chủ nghĩa cộng sản cũng là một “hòn đá triết lý” của các nhà lý luận mác-xít).

Trong tư duy lý luận của loài người có một phần quan trọng là tôn giáo. Tôn giáo thực ra cũng là tập hợp của một hệ thống “suy luận có lý”, người theo tôn giáo bằng kinh nghiệm của mình tin vào các giáo lý. Chân lý luôn thuộc về các vị thánh, những người có đạo phải tuyệt đối tin theo, không bàn cãi. Đây là đặc điểm để nhận diện tôn giáo và khoa học. Trong khoa học thì không có các vị thánh, chỉ có nhà khoa học có uy tín và nhà khoa học ít uy tín. Khi thực tiễn đủ căn cứ để chứng minh một suy luận có lý nào đó là phù hợp với thực tiễn, tức là đúng, thì nhà khoa học đề ra suy luận có lý đó được công nhận, cho dù trước đó ông ta rất ít uy tín. Ví dụ như Anh-xtanh với thuyết tương đối, Huy-ghen với thuyết sóng ánh sáng…. Đặc điểm lớn nhất của các tôn giáo là luôn đề cao cái thiện, đề cao tình thương giữa con người với nhau, không phân biệt chính kiến, mầu da… Chủ nghĩa Mác-Lênin kể từ sau khi cách mạng tháng Mười thành công thực chất đã trở thành một môn phản tôn giáo. Nó giống tôn giáo ở chỗ xem các “thánh” như Mác, Lênin, Stalin… là luôn luôn đúng, không bàn cãi. Nó khác tôn giáo ở chỗ không đề cao cái thiện mà đề cao bạo lực (đề cao chuyên chính vô sản). Vì vậy, tôi không gọi chủ nghĩa Mác-Lênin là tôn giáo, mà gọi là môn “phản tôn giáo”.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin không đáp ứng nhu cầu đời sống hiện đại

Trước hết chúng ta thử giải thích xem vì sao chủ nghĩa Mác-Lênin đã giành được thắng lợi lớn trong hơn 70 năm.

Chủ nghĩa Mác ra đời vào cuối thế kỷ XIX, khi loài người tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ I. Đó là thời kỳ của máy hơi nước, lao động thủ công vẫn chiếm vai trò chính trong sản xuất. Mác viết bộ Tư bản, phân tích quá trình sản xuất bằng cách phân tích loại hàng hóa đặc biệt, đó là sức lao động. Theo dõi phân tích của Mác, có thể nhận ra rằng ngoài yếu tố sức người, Mác không phân tích, nghiên cứu gì thêm nữa. Cũng nên thông cảm với Mác, lúc đó loài người còn chưa đưa những yếu tố khác vào sản xuất. Nói cách khác, phân tích của Mác không bao quát hết các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất. Điều này cũng giống như khi hai cậu bé tranh luận về mặt trời gần xa, ai cũng chỉ phân tích theo một phán đoán của mình, không bao quát hết các yếu tố ảnh hưởng khác. Từ phân tích về sức người, Mác đi đến phán đoán cực đoan là “xóa bỏ quyền tư hữu”. Phán đoán “xóa bỏ quyền tư hữu” sẽ dẫn đến việc “làm chung, ăn chung” mà thực tiễn thời Lênin là chính sách “tập thể hóa nông nghiệp”“quốc hữu hóa sản xuất công nghiệp”. Trong bài báo “Bàn về kinh tế thị trường”, Lênin phân tích thêm theo hướng này, đưa ra một phán đoán mới: “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là quy luật của tái sản xuất mở rộng”. Kết luận này của Lênin được các nước XHCN áp dụng trong xây dựng, phát triển kinh tế, trong thực tiễn đã là gánh nặng cho nền kinh tế trong rất nhiều năm. Các nhà lý luận Mác-Lênin cho rằng quyền tư hữu đang cản trở sự phát triển kinh tế của xã hội, vậy thì khi xóa bỏ quyền tư hữu nền kinh tế sẽ phát triển mạnh. Như trên đã nói, ông Stalin đưa ra quy luật kinh tế cơ bản của chế độ XHCN là kinh thế phát triển không ngừng. Ở những năm đầu của chính quyền Xô-Viết, khi lao động thủ công còn chiếm tỉ trọng lớn, quá trình chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí làm thay đổi mạnh mẽ chất lượng lao động thì việc tập trung chú ý vào quản lý sức lao động vẫn có tác dụng tăng trưởng sản xuất. Điều đó che lấp bản chất thực sự của quá trình phát triển kinh tế. Đến những năm 70 thế kỷ XX kinh tế XHCN hầu như đã đi hết đà của nó. Mô hình quản lý “sức lao động” thuần túy trở nên ít hiệu quả. Liên Xô lúc ấy bắt đầu chỉ trông vào khai thác tài nguyên như dầu mỏ, các ngành khai khoáng… Các nước XHCN lâm vào cuộc khủng hoảng về kinh tế mà thời đó có những “nhà lý luận” ở Việt Nam gọi là “khủng hoảng sản xuất thiếu”. Lý luận kinh tế Mác-Lênin đi vào ngõ cụt.

Có thể lấy một ví dụ thực tế để minh họa. Có những năm Liên Xô bị thiếu lúa mì nên đề ra chủ trương khai hoang. Câu chuyện trên được cố Tổng bí thư L.I. Brê-giơ-nhép kể lại trong tác phẩm Đất nhỏ. Cuộc khai hoang vĩ đại này đem lại cho Liên Xô một tỉ pút lúa mì mỗi năm. Công bằng mà nói thì đấy là thắng lợi của Đảng và nhà nước xô-viết. Nhưng nếu nói đến hiệu quả kinh tế thì lại không mấy sáng sủa, vì công sức bỏ ra nhiều mà hiệu quả thấp. Hãy so sánh để biết: Đất nước Ix-ra-en nhỏ bé (diện tích cỡ tỉnh Thanh Hóa của Việt Nam) xuất khẩu gạo hàng thứ ba thế giới. Điều đó cho thấy còn nhiều yếu tố tác động đến quá trình sản xuất, nhưng lý luận Mác-Lênin đã bỏ qua không xét nên không thể đạt hiệu quả kinh tế cao.

Khi ra đời, chủ nghĩa Mác-Lênin hứa hẹn sẽ đáp ứng ước mơ lớn nhất của loài người bằng một phán đoán nổi tiếng: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Các bạn nghĩ mà xem, mỗi người đều có năng lực khác nhau, kẻ ít người nhiều, nhưng lòng tham của con người thì nhất loạt nhự nhau, đều “không đáy”. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lấp đầy cái “không đáy” bằng lời hứa “hưởng theo nhu cầu”. Lời hứa này dựa trên hệ thống “suy luận có lý” mang dáng dấp một khoa học xã hội, đủ sức hấp dẫn với nhiều trí thức có khả năng thu hút quần chúng nghèo khổ theo mình. Vậy thì có gì lạ khi chủ nghĩa Mác-Lênin đã giành thắng lợi vĩ đại trong hơn 70 năm. Cũng không có gì lạ khi chủ nghĩa Mác-Lênin sụp đổ về lý luận. Đơn giản là vì chủ nghĩa Mác-Lênin không bao quát hết khả năng phát triển của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Khi thực tiễn xã hội vượt qua thời kỳ chỉ biết có sức người thì hệ thống Mác-Lênin trở nên lỗi thời, các chính quyền khư khư bám vào lý luận này trở thành lạc điệu so với thế giới.

Có bạn hỏi: Vậy cái gì của chủ nghĩa Mác-Lênin đến nay còn dùng được? Trả lời: Về kinh tế thì phải xóa bỏ hoàn toàn lý luận Mác-Lênin, vì lý luận này dựa trên một tiền đề đến nay thấy rõ là sai lầm: Xóa bỏ chế độ tư hữu. Không thể bỏ chế độ tư hữu được, chỉ có thể quản lý nó. Về chủ nghĩa xã hội khoa học thì toàn bộ lý luận về 2 phe, 4 mâu thuẫn đã bị thực tiễn bác bỏ. Tuy nhiên, phần lý luận về mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì còn có giá trị. Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất XHCN với lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành. Giải quyết mâu thuẫn này có nhiều phương hướng khác nhau, trong đó có cách giải quyết bằng con đường cách mạng xã hội. Và nếu nói đến cách mạng xã hội thì lý luận về tình thế cách mạng và thời cơ cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn đáng để tham khảo.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác-Lênin đã đóng vai trò dẫn đường cho một trào lưu xã hội ở cấp độ toàn cầu. Đến ngày nay, vai trò đó đã hết. Quá trình sản xuất hiện đại có những bước tiến vượt bậc, đòi hỏi các nhà khoa học phải “nghiên cứu” lại chủ nghĩa Mác-Lênin từ vấn đề cơ bản nhất. Để chứng minh giai cấp tư sản bóc lột, Mác lý luận như sau: Giả sử có nhà tư sản luôn mua rẻ, thế thì anh ta có lợi khi là người mua và sẽ bị thiệt khi là người bán, tóm lại không lợi gì. Nếu có nhà tư sản luôn bán đắt, thì anh ta có lợi khi bán và sẽ bị thiệt khi là người mua, tóm lại cũng không lợi gì. Giả sử có nhà tư sản luôn mua rẻ, bán đắt, thế thì chỉ anh ta có lợi, còn giai cấp tư sản thì không làm giầu trên lưng mình được. Từ đó suy ra giai cấp tư sản phải chiếm lợi nhuận của người làm thuê (Tôi chỉ tóm tắt, bạn nào cần đọc xin tìm hiểu trong các giáo trình chủ nghĩa Mác-Lênin có rất nhiều trong các hiệu sách). Vào thời đại của Mác, khi lao động chân tay của người làm thuê còn chiếm ưu thế thì lý luận như vậy “có vẻ đúng”. Khoa học kỹ thuật phát triển đã đem lại một cách nhìn khác. Ở Nhật, có công ty thí nghiệm sử dụng rô-bốt trong một phân xưởng sản xuất. Phân xưởng này không có người, chỉ có rô-bốt làm việc từ A đến Z. Vậy thì theo lý luận của Mác, ở phân xưởng này nhà tư sản có phải là đang “bóc lột” các rô-bốt không? Có cần vận động các rô-bốt đứng lên “lật đổ” tư sản không? Có người sẽ phản bác: Đó chỉ là trường hợp riêng lẻ, ở một phân xưởng nào đó! Nhưng đó lại chính là tương lai của cả loài người, khi khoa học kỹ thuật đạt đến đỉnh cao. Ví dụ này cho thấy lý luận của Mác về bóc lột lao động làm thuê là sai. Điều quan trọng hơn, như cách nói của các nhà lý luận mác-xít, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì phải có cách nhìn khác. Cần phải đánh giá lại các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất, như yếu tố khoa học kỹ thuật, yếu tố khoa học quản lý, yếu tố tác động của nguồn vốn, yếu tố thương hiệu, yếu tố tâm lý người mua hàng… mỗi yếu tố chiếm bao nhiêu phần trăm trong giá thành. Chủ nghĩa Mác-Lênin không đánh giá đầy đủ các yếu tố này, tất nhiên không đáp ứng được yêu cầu của thời đại ngày nay.

Các bạn sinh viên, hoàn cảnh lịch sử đang đặt ra nhiệm vụ cho các bạn giải quyết cả về lý luận và thực tiễn con đường phát triển sắp tới của Việt Nam. Đất nước này có vượt qua cơn nguy biến cận kề để vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết tâm của các bạn. Đất nước đang trông chờ các bạn.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Mạnh Quân – Run rẩy trước sự thật

Sợ thật đấy nhỉ. Viết cái gì bây giờ cũng sợ. Danh sách khuyến cáo điều không nên viết mỗi ngày lại được bổ sung thêm vài thứ: hôm trước thì bảo viết vụ bắt này thì theo TTXVN, theo cơ quan điều tra… không comment, không suy luận. Hôm sau thì bảo: có thể đưa tin giá vàng, giá usd nhưng không được cho là do ảnh hưởng bắt ông này, ông kia…

Mà tin tức bây giờ loạn thật. Tin đồn thì có lúc rất đúng, lúc không, lúc rất tào lao, nghe là biết toàn tin tào lao… Nhưng trên báo chí chính thống cũng kém gì. Đầy lúc tin tào lao hoặc có Tin đăng thì đăng một lúc lại gỡ, không một lời giải thích tại sao gỡ như bài về Đặng Thành Tâm ôm 600 tỷ đi đâu trên Petrotimes, rồi tin cũng về Dương Chí Dũng bị bắt ở đâu, thế nào… lên được một tý cũng gỡ. Các bài đả phá anh Huệ không chịu giảm thuế nhập khẩu xăng dầu cũng gỡ… loạn hết cả lên. Mà những cái bị gỡ có phải cái nào cũng sai đâu: ví dụ cái bài về anh Huệ ko chịu giảm thuế nhập khẩu xăng cho dân tình bớt chút tiền mua xăng… của Phamtuyentpo trên Tiền Phong có qué gì đâu mà cũng gỡ.

Mấy tuần trước, có bạn nào lên FB than thở: “Cái đắt giá nhất ở Việt Nam hiện nay là sự thật”. Một câu nói đáng suy nghĩ. Đúng thế. Chỉ cần có chỗ nào đưa ra những thông tin không những hay mà lại đúng thì thiên hạ đổ xô vào xem ngay. Đơn giản là người ta cần thông tin, cần sự thật. Hàng trăm tờ báo cả báo in, báo online đang kêu khó khăn. Đừng chỉ bảo là do kinh tế khó khăn, doanh nghiệp ít quảng cáo… uh thì có lý do đó nhưng cái chính là thiếu những thông tin giá trị, đáng đọc. Chẳng thế mà có những trang web, đọc free sao mà thiên hạ vào đọc lắm thế, hàng chục triệu lượt đọc. Nó mà chính danh, thu dược quảng cáo thì các ông ăn cám hết.

Cơ bản là có nhiều sự thật lớn và người ta đang phải lẩn tránh nó. Tôi cũng phải lẩn tránh chứ? Nếu không lẩn tránh, tôi không thể tồn tại. Không chỉ lẩn tránh, chúng ta thực tế đang run rẩy trước sự thật. Không phải là những sự thật về chuyện giá cả, học hành, môi trường… vớ vẩn. Có nhiều sự thật vẫn được đăng tải, nó không sai nhưng chưa phải là sự thật người ta đang thực sự quan tâm. Mà là những thông tin, sự thật có thể đang gây lên những biến động, chuyển biến lớn, ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế, đến hầu bao, đến vận mệnh của đất nước, đến cuộc sống, tương lai của từng người chúng ta. Sự thật không chỉ bị dấu nhẹm, bị bóp mép, bị xuyên tạc… mà còn bị chính nhiều người cầm bút, trong đó có cả tôi, cả anh, cả chị… chối bỏ, lẩn tránh để tự bảo vệ mình. Hu hu.

Tôi, anh, chị… có thể viết như Huy Đức không? Có thể không bằng nhưng cũng không kém quá xa đâu. Nhưng vấn đề là: chúng ta đang ở Vn chứ không phải ở Mỹ. Chứ còn gì nữa?

9.9

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Lê Nhung – Để chặt đứt các nhóm lợi ích

Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai…

Chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp trong buổi tọa đàm tuần trước của UB Kinh tế Quốc hội, Phó chủ nhiệm UB Mai Xuân Hùng nhắc đến một trong những nguy cơ lớn nhất: nhóm lợi ích. “Chỉ một cá nhân có thể thâu tóm cả hệ thống”, ông nói.

Làm rõ khe hở luật pháp

Cụm từ “nhóm lợi ích” hay “lợi ích nhóm” gần đây được nhắc đến ngày một nhiều.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn nêu đích danh “lợi ích nhóm” trong phát biểu kết thúc hội nghị lần thứ 3 BCH Trung ương Đảng khóa XI.

20120907145539_tbt070912.jpg
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu đích danh “nhóm lợi ích”. Ảnh: TTXVN

Riêng trên diễn đàn Quốc hội, nhiều đại biểu không ngần ngại điểm mặt chỉ tên thủ phạm “nhóm lợi ích” đang chi phối nền kinh tế.

Chẳng hạn, phát biểu về kinh tế – xã hội tại kỳ họp thứ ba, ĐBQH Huỳnh Ngọc Đáng đề nghị Chính phủ, Quốc hội cảnh giác với tác động của các nhóm lợi ích, không chỉ trong các tháng còn lại của năm 2012, mà cả trong tiến trình tái cơ cấu.

Mới đây, chất vấn Tổng Thanh tra Chính phủ về chống tham nhũng, Phó chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cũng nói: “Năng lực, bộ máy, quyết tâm không thiếu nhưng vẫn không phát hiện được tham nhũng, phải chăng có vấn đề về lợi ích nhóm, về bao che trong đội ngũ cán bộ?”.

Đặc biệt, trong báo cáo “Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu” mới phát hành, lần đầu tiên UB Kinh tế Quốc hội đưa ra những mô tả cụ thể nhận diện các nhóm lợi ích.

“Ưu điểm” nổi bật là những nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt động rất linh hoạt, theo từng vụ, việc và vây quanh một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, các nhóm lợi ích thường tiếp xúc theo “quan hệ” cá nhân. Có thể đặt quan hệ trực tiếp hay qua con cái, thân quen mà chất kết dính là lợi ích tiền bạc.

Lợi ích càng lớn thì nhóm lợi ích hoạt động càng mạnh. Luật pháp càng lỏng lẻo hay quyền lực ít bị giám sát thì nhóm lợi ích càng hoạt động trắng trợn hơn.

Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, rừng biển…

Những người này có thể ở cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã hay một cá nhân thanh tra… Thậm chí, các hoạt động này len lỏi cả vào những lĩnh vực rất trí thức như nghiên cứu khoa học, cấp bằng, chấm luận án.

“Nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt động trong một không gian chủ yếu phi chính thức, bất hợp pháp, trong không ít trường hợp có quan hệ đến buôn lậu hay các hoạt động có tính chất phạm pháp ở mức độ khác nhau.

Việc xác định bản chất, hình thức, phạm vi hoạt động của các loại nhóm lợi ích khác nhau cần được đầu tư, nghiên cứu thêm trong thời gian tới để làm rõ những lỗ hổng hay khe hở luật pháp để các nhóm lợi ích lợi dụng”, bản báo cáo phân tích.

Như vậy, các nguồn lực kinh tế đã bị xâu xé, bóp méo… để phục vụ các nhóm lợi ích khác nhau.

Đổi mới mà không… tốn tiền

Từ những phân tích trên, UB Kinh tế đề xuất cần thay đổi tư duy. Bởi một số nhóm lợi ích đã lợi dụng tư duy “kinh tế nhà nước là chủ đạo” khiến môi trường kinh doanh thiếu cạnh tranh bình đẳng.

Báo cáo chỉ rõ, trong khi về hình thức luôn nhấn mạnh kinh tế nhà nước là chủ đạo thì các công ty sân sau của con, cháu, thân quen của lãnh đạo các cấp lại đều là kinh tế tư nhân.

Chính các công ty sân sau này đang đem lại lợi nhuận hợp pháp cho tư nhân, còn phần lỗ để cho công ty nhà nước gánh chịu. Việc dùng các tập đoàn kinh tế, công ty nhà nước để bù lỗ, ổn định giá đều quá tốn kém, không hiệu quả và bị chia chác trong “lợi ích nhóm”.

Theo bản báo cáo, thực tế mất ổn định kinh tế vĩ mô suốt thời gian qua hoàn toàn bác bỏ vai trò là công cụ ổn định kinh tế vĩ mô của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. “Nếu luôn xem đây là công cụ hữu hiệu để ổn định kinh tế vĩ mô thì tại sao tình hình mất ổn định lại gay gắt, kéo dài như hiện nay?”, nhóm chuyên gia nêu câu hỏi.

Chính tư duy coi kinh tế nhà nước là chủ đạo đã dẫn đến sự chèn ép với khu vực kinh tế tư nhân. Và khu vực kinh tế này cũng phải tìm cách sinh tồn.

Các doanh nhân thay vì lo đầu tư kinh doanh thì lại chăm chỉ đầu tư thời gian, tiền bạc để thiết lập và duy trì các mối quan hệ. Phải lo đến thăm người bệnh, dự đám giỗ, đám tang, đám cưới, chúc tết các quan chức lớn, nhỏ… để giữ quan hệ.

Chuyện mua bán quan hệ như vậy đã dẫn đến sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của những đại gia tư nhân lớn, nhỏ ở Việt Nam. Những người phất lên nhanh chóng không do tiến bộ khoa học, công nghệ, năng suất lao động hay đóng góp cho phát triển kinh tế mà chủ yếu do khai thác tài nguyên đất đai, khoáng sản…

“Những đại gia này mặc nhiên tự cho mình có những đặc quyền riêng, trong không ít trường hợp thiếu tôn trọng pháp luật và lợi ích người lao động. Sự phát triển lệch lạc này của khu vực kinh tế tư nhân rất không bền vững”, báo cáo mô tả.

Sau khi cảnh báo các mối nguy trên, nhóm chuyên gia kiến nghị các giải pháp cải cách thể chế mạnh mẽ để các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn, góp phần vào thành công của tái cơ cấu kinh tế. Chẳng hạn, thiết kế cơ chế giám sát.

Tất cả các cấp, các cơ quan đều phải được giám sát chặt bởi một hay nhiều thể chế độc lập. Cần lập cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập với Chính phủ, hoạt động theo luật pháp dưới sự giám sát của Quốc hội.

“Quá trình này không tốn kém tài chính, không cần đầu tư vốn lớn nhưng đòi hỏi quyết tâm chính trị cao để vượt qua những nhóm lợi ích và tư duy nhiệm kỳ”, nhóm chuyên gia kết luận.

Lê Nhung

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Tô Hải – Nhật ký mở lần thứ năm (sau cơn xuýt… ngỏm củ tỏi!)

Ngày 3 tháng 9/2012: Mỗi năm lịch sử được… “chỉnh lý” dăm bảy lần!

Những nhân chứng lịch sử chẳng may “bị” sống dai như mình không biết có ai còn trí nhớ để… nổi giận 5 phút khi bị các nhà “độc quyền nói”, “độc quyền viết”, ”độc quyền kết luận” đưa ra những dữ kiện lịch sử “lếu láo”, ”lấp liếm”, “lươn lẹo”, “lừa lọc”, ”lố lăng”, ”lật lọng”, “lấp lửng”…, về những gì đã xảy ra ở cái thời mà có khi chính ông cha họ cũng đang còn mặc quần thủng đít!
Tớ đã hơn một lần phải lên tiếng “nói lại cho rõ” về những gì mà tớ đã từng tham gia, từng chứng kiến để “uốn nắn” lại mọi sự xuyên tạc lịch sử mà ở thời đại Internet này, chuyện kiểm chứng dễ như chơi!

Ví dụ: Không phải là Việt Minh cướp chính quyền trong tay Nhật Pháp (!) mà là có sự bàn giao đàng hoàng ấn kiếm, có tuyên bố thoái vị của vua Bảo Đại và sự từ nhiệm của “chính phủ Đế Quốc Trần Trọng Kim” mà trước đó ít ngày, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp Trịnh đình Thảo đã ký lệnh thả tất cả các tù chính trị không phân biệt mầu sắc, tạo điều kiện cho khá nhiều vị tù nhân kịp ra nắm các chức vụ quan trọng trong các chính phủ chuyển tiếp sau này…

Còn tại Hà-Nội thì chính tớ, trên cương vị một thanh niên cứu quốc vô danh nhưng… hăng máu vịt đã đến tận Tòa Đốc Lý Hà Nội hậu thuẫn cho ông Nguyễn Quyết nhận bàn giao chính quyền từ Đốc Lý Trần văn Lai… Chuyện này nhân 19/8/2010, nếu ông Nguyễn Quyết không được mời lên T.V kể chuyện cũ… đã “bỗng dưng khai ra” nên tớ mới có dịp “nói lại cho rõ”. Bằng không nếu tớ có thề độc là: ”Sự thật nó thế này cơ!”, thì thế nào cũng có kẻ chưa đáng tuổi con tớ lên tiếng là: tớ “xuyên tạc”!

Sau đây là một vài chuyện lấp lửng, lươn lẹo, lọc lừa… mới:

- Việt Minh chính là sự nhập nhèm của cái tên “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội”, (hai từ “cộng sản” sức mấy mà dám chìa ra ở thời điểm bấy giờ ) nên mới được phe Đồng Minh ủng hộ!

Cụ thể là Mỹ đã cử phái đoàn quân sự Archimedes Patti đến tận chiến khu Việt Bắc, tiếp tế vũ khí đạn dược suốt cả năm trời rồi trực tiếp dự ngày ra mắt đội Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (22-12-1944) sát cánh cùng các nhà lãnh đạo “Hội” cho đến tận ngày cùng Việt Minh về tiếp quản thủ đô Hà Nội! (*)

- “Khúc quanh lịch sử” này mà theo tớ chính nhờ nó mà Việt Minh được sự hưởng ứng của đông đảo người dân trong đó có bọn thanh niên “quáng gà chính trị” cánh tớ, đã bị lấp liếm không thương tiếc!

hcm_huou_s%5B1%5D.jpg
Phái đoàn Archimedes Piatti (OSS) tại chiến khu Việt Bắc

- Về cái chết của ông Hồ, về bản di chúc của ông, ngày sinh, ngày chết tại sao nay thế này, mai thế khác???

Tất cả những gì mình đã chứng kiến, đã nghe trực tiếp từ các vị “to” nhất nhì nước nói ra, viết ra, mình đều sẵn sàng “đính chính”, ”uốn nắn” hoặc “bổ xung”, thì… đến năm nay… bỗng dưng đúng ngày ông “chết chính thức” ( đã được công bố ) thì… không một tờ báo nào, một buổi phát thanh, phát hình nào có được vài phút thắp hương “giỗ” cụ? Trái lại trên báo ANTG điện tử, tớ lại đọc được bài viết về việc “giữ thi hài bác” đã được chuẩn bị rất sớm và tuyệt đối bí mật ra sao? Theo b/s Lê Điều 85 tuổi, người cuối cùng còn sót lại trong đoàn bác sỹ lên đường sang Liên Sô học tập cho vụ “giữ xác” này nhớ lại là: đúng ngày 21/8/1967, nghĩa là… 2 năm trước, khi Bác còn mạnh khỏe?!

- Lại có chuyện lấp lửng gì đây?

- …

Điều đáng mừng là: tất cả những phát hiện của tớ về các “sơ sót” do cố tình hay vô ý hay do ngu dốt nên đã bôi bác, xuyên tạc lịch sử được không ít những phản hồi tích cực! Không hề có một ý kiến phản bác mà chỉ là những lời động viên khen tớ là… “trí nhớ còn… tốt” hoặc… “khá dũng cảm đấy!” (!?) ngay từ những người “đồng chí cũ” nay đang còn hoặc đã rời bỏ mọi chức vụ, quyền hành!

Cho đến năm nay…

Đối ngoại đang đứng trước nguy cơ bị “xâm thực” mà không cần súng nổ, bom rơi,… mà theo các nhà lý luận hiện đại là… mất nước theo kiểu “thực dân… siêu mới”: “bất chiến tự nhiên thành”…

Đối nội thì một “số không nhỏ” những đảng viên “cộng sản cái lỗ mồm”, đang thi nhau đục khoét, vơ vét, chia chác, bán chác hết cả tài nguyên, đất đai, biển đảo,.. cho nước “lạ”, ảnh hưởng đến sụ “tồn vong của Đảng (cái này thì có thể) và Quốc Gia”- (cái này thì không có thể) đến nỗi quần chúng mất lòng tin ở Đảng….

Cho nên:

Dù không phải năm chẵn, kỷ niệm 62 năm thành lập nước CHXHCNVN và 82 năm thành lập ĐCSVN, nhưng cũng đã được các cơ quan Tuyên và Giáo huy động tối đa mọi tài lực, nhân lực, mọi phương tiện “nhồi nhét tư tưởng” để viết lại lịch sử khá là… toàn diện và vô tư, coi như cả thế giới này đều…mù lịch sử cả nên muốn nói gì thì cứ nói, muốn viết gì thì cứ viết!

Đối với một nhân chứng lịch sử có gần 40 năm làm nghề Tuyên-Giáo của Đảng như tớ thì…. KHÔNG MỘT TƯ LIỆU LỊCH SỬ NÀO ĐƯỢC TUNG RA ẦM Ỹ THỜI GIAN QUA KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ!

1- Vai trò lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng được nâng lên một tầm cao mới một cách trâng tráo. Ví dụ: Thêm vào vai trò quyết định của Đảng Cộng Sản VN, các lãnh tụ Đảng ngay khi họ chưa về nước hoặc trong những năm Đảng đã tuyên bố… giải tán!

2- Xổ toẹt mọi quan điểm lịch sử khi đưa những cuộc khởi nghĩa tháng 8, ngày 2 tháng 9 kể các trận thắng Pháp,… trước khởi nghĩa… tất tần tật đều do “sự lãnh đạo tài tình của Đảng” cả! Thậm chí ngày 2/9/55 trong cuốn phim thời sự (phim màu) do R.Carmen quay, đoạn diễn văn của ông Hồ được một diễn viên nào đó (kém xa Tiến Hợi) thu tiếng lại rồi play back đã bị thêm bớt rất nhiều. Đặc biệt những câu bình luận về Đảng về chủ nghĩa xã hội sao mà nghe nó lạc điệu và gán ép đến mức… không chịu nổi!

Các chú Tuyên và Huấn không biết rằng: Thời buổi này chỉ cần một cái click chuột, mọi tài liệu, bản thảo viết tay, hình ảnh đều có thể hiện ngay trước mắt những người muốn kiểm tra xem các chú có nói thật hay không một cách dễ ợt!

Chẳng cần học hỏi đâu xa, hãy nhìn ngay lịch sử của Đảng Cộng Sản Cuba thì các chú sẽ thấy. Họ đàng hoàng viết rằng:

Cuộc cách mạng 1/1/1959 chỉ là cuộc cách mạng của những lực lượng yêu nước đứng đầu là những trí thức giác ngộ về sự thối nát, độc tài của chính quyền Batista.

Và họ được chính J.F.Kennedy ủng hộ! Cho tới 10/1965 mới có chuyện Đảng Cộng sản do chính Fidel, một người chưa có một ngày là cộng sản, đứng ra lãnh đạo toàn dân với mục đích được đứng vào phe Liên Sô để đối đầu với cuộc phong tỏa bao vây, cô lập của Hoa Kỳ!

Trái lại ở VN, nhân ngày 19/8 và 2/9 người ta không ngừng ngợi ca công lao của những người cộng sản, làm đủ thứ lễ lạt, tưởng niệm, dựng tượng, xây đền đài những nhà cách mạng chết… trẻ mà ngay tớ khi 18 tuổi, đi theo cách mạng cũng chỉ nghe tên chứ cũng chẳng biết mấy cái ông này đã làm gì cho đất nước! Đã lâu…. bị bỏ quên không có ai dâng hương vái lậy gì sất thì năm nay, bỗng đồng loạt được tổ chức trong cái tháng cách mạng mùa thu này??!!! Hơn thế nữa người ta phóng tay phát động các cuộc tưởng niệm này rất rềnh rang, xây đền đài, khu di tích cho các “tiền nhân” này rất tốn tiền của người đóng thuế giữa lúc tình hình kinh tế theo t/s Lê Đăng Doanh là: “chưa bao giờ khó khăn như bây giờ”! Chỉ riêng ở Nghệ An đã chi đến trên 550 tỉ đồng cho ba khu lưu niệm, tượng đài, nhà thờ, của 3 ông cộng sản mà bây giờ bố tớ có sống dậy cũng như tớ (còn có 19 ngày nữa là “lên”… 87) cũng chẳng biết các ông ấy đã làm được cái gì cho nước Việt Nam mình?! Lý do: hầu hết đều sớm… “hy sinh vì lý tưởng” của… mấy ông Tây từ khi chưa kịp hoặc mới về nước làm cách mạng, những năm bản thân mình tuy đã 5, 10 tuổi nhưng thỉnh thoảng vẫn còn đái dầm! Vậy mà, rồi đây, các cháu sẽ phải “thuộc nằm lòng” những cái tên cha căng chú kiếc nào đó còn hơn cả những Quang Trung Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Trần hưng Đạo… vì các vị này mới chỉ… “đưa được dân ta thoát vòng nô lệ” mà thôi! chứ còn lâu mới bằng mấy ông mà chúng tôi vừa mới lập đền đài, cúng kiếng đây, vì họ mới là anh hùng dân tộc bởi vì họ vĩ đại với cái lý tưởng SẼ… “dẫn năm châu tới Đại Đồng!” (SẼ mãi thôi nhé, chứ chưa hề đã hoặc đang bao giờ!)

Khổ thân cho các con, các cháu sau này chẳng biết được kẻ nào đã bắt nước ta làm nô lệ lâu hơn, tàn ác hơn cả Pháp và Đế Quốc Mỹ gấp đến cả chục lần, cũng như chẳng biết Hai Bà Trưng, Quang Trung, Lê Lợi… đánh đuổi giặc gì nữa! Gọi tổ tông các đồng chí 4 tốt là “giặc” nghe sao tiện, phải hông??!!! Nhỡ ra….

- Ngay cả việc đem những tài liệu cũ, những nhân chứng “đánh thắng giặc Mỹ” cũ, những phim ảnh cũ ra để ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của “Đảng ta” không có thêm bớt gì, đối với một dân Tuyên Huấn cũ như tớ, tớ cũng thấy rất là… ”non tay nghề”! Ai đời muốn làm bạn với người ta, muốn người ta công nhận mình đang có nền kinh tế thị trường? (dù cái đuôi XHCN thì to đùng!) mà giữa thời buổi “muốn làm bạn với tất cả”, muốn “hòa hợp, xóa bỏ hận thù” mà cứ có dịp là lại không ngớt chửi người ta là “Đế Quốc Xâm Lược” là “bọn Đế Quốc Mỹ quỷ quái” là “bọn ngụy quân ngụy quyền tay sai đầu hàng nhục nhã trước sức tấn công vũ bão của quân ta” vv… vv… thì… đúng là… “thiếu nhạy bén”, đúng là… “vô chính trị” thiệt!

Cũng nhân hai cái “kỷ niệm 82 năm và 62 năm” này…

…………. Gần 70 cái đài Tivi trong cả nước cũng được dịp đua nhau lục trong kho tài liệu của quá khứ ra để dùng lại nguyên xi hoặc thêm bớt vài chỗ, những cuốn phim truyện,tài liệu cũ, đặc biệt là việc mời mấy ông “cưu chán binh”, nói không ra hơi, lắp ba, lắp bắp “lên mâm” kể chuyện về sự tài tình của “đảng ta” trong chiến dịch này, chiến dịch nọ… để hùng hồn vô tình minh chứng bằng người thật việc thật là: “Việc xé bỏ hiệp định Paris, kéo quân vào miền Nam hy sinh đến người Việt Nam cuối cùng cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế, cho Liên Sô, cho Trung Quốc…” là có thật! Việc quân đội miền Bắc dẫm đạp lên Hiệp nghị Genève tiến đánh quân đội miền Nam, nếu xưa kia cứ gân cổ cãi lấy được trên Đài phát thanh rằng là “vu cáo”, là “bịa đặt” thì hôm nay đây, các bố cựu chán binh lại lên giọng kiêu binh công khai kể lại các chiến công của mình cứ như… đàng hoàng tuyên bố lại với thế giới rằng: “Thời ấy, Đảng ông chủ trương oánh! thì ông oánh đấy! Làm gì ông nào!”

Tóm laị, toàn bộ “siêu chiến dịch tuyên truyền viết lại lịch sử” kéo dài cả tháng nay nhằm mục đích khẳng định: Mọi thắng lợi từ tháng 8/45 đến nay đều nhờ công đức “Đảng ta”, trong đó có cả công lớn của những “lãnh tụ” của các ông ấy, học trò trung thành của hai anh Tây Mác-Lê, dù đã chết ngay từ trước 45, ngay khi chưa làm được cái gì cho sự nghiệp vĩ đại ấy cụ thể cả thì nay bỗng cũng cực kỳ vĩ đại vì đến chết vẫn mang theo cái ý chí lớn lao giải phóng loài người! Gần 90 triệu dân nghe cho rõ! Hiểu chưa? Nhớ chưa?

Vậy thì… hôm nay đây, “Đảng Ta” có vấp phải một số khuyết điểm do một “số không nhỏ đảng viên” thôi mắc phải, thì… hãy cứ tin tưởng vào đảng chúng tôi đi! Sau vụ tắm rửa “phê và tự phê có biện chứng” này, mọi chuyện sẽ trở nên cực tốt! Đảng sẽ muôn năm còn sống mãi với đất trời… dù đất nước có mất tên đi nữa!…

Mệt quá! Còn 3, 4 vụ lấp lửng, lếu láo, lươn lẹo, lố lăng.. nữa nhưng thấy quá dài rồi, mà dẫn chứng các đường link chỉ tổ làm mất thời giờ của các em, các cháu nên…. tạm nghỉ cái đã…..

Tuy nhiên, trước khi ngừng gõ cũng cứ xin rỉ tai các nhà viện sỹ, lý luận gia, các hội đồng lý luận của Đảng: ai không biết internet là cái gì hoặc mắt đã quá lèm nhèm, hãy nhờ con cháu, thư ký, “chuyên ra” nó gõ vào Gúc-gồ, để mà thấy khẩu hiệu của Goebbel “nói dối, nói dối nữa, nói dối mãi, sẽ còn lại một cái gì đó” ở cái thời này, trẻ con nó cũng có thể tìm ra nhận ra là chúng bị lừa bịp đến dường nào khi chúng gõ vào cửa sổ Google vài chữ “Cách Mạng tháng 8” hoặc “chính phủ Bảo Đại”! Nhất là gõ được bằng nhiều thứ tiếng thì càng nhiều thông tin vô tư đến kinh ngạc! May ra có thể mở mang cái đầu óc bị u mê ra tí chút đấy!

……………….

Ngày 4 tháng 9/2012: Cả lịch sử nước bạn Lào cũng bị xuyên tạc

Cùng với thời gian kỷ niệm cách mạng mùa thu này là cuộc kỷ niệm ồn ào chưa từng thấy về tình hữu nghị đặc biệt Lào-Việt nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Các phái đoàn to nhiều, to vừa, to ít… thay phiên nhau bay qua, bay lại gặp gỡ ôm ấp, hôn hít, bắt tay nhau tưởng chừng không thể nào gỡ ra nổi nữa. Đặc biệt trong các lời phát biểu, tuyên bố, bình luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng thì:

1- Lịch sử nước Lào đã bị cắt cúp, đến mức… liều lĩnh!

2- Cố tình vứt vào sọt rác những cái tên mà chính ông cụ Hồ đã ôm hôn thắm thiết và đã… “tức cảnh sinh tình” ra mấy câu văn vần trong diễn văn đón Đoàn Chính phủ Liên Hiệp Vương Quốc Lào năm 1961 tại Hà Nội:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo,
“ Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua,
“Việt Lào hai nước chúng ta
“Tình sâu hơn nước Hồng Hà-Cửu Long”

1154156822%5B1%5D.jpg
Vua Lào cùng Hồ chủ tịch dự lễ tụng kinh niệm Phật cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc tai chùa Quán Sứ

Vì đâu? Vi ai? mà cái “tình sâu” này khi đón vua Vathana và Thủ tướng Souvana Phouma trở thành… nông choẹt? Trên Internet còn có thông tin nhà vua Lào sau cuộc giành lấy chính quyền của Pathet Lào năm 75 đã chết trong một trại cải tạo nào đó ỏ khắp nơi trên đất Lào đã giam giữ từ 3 đến 40.000 sĩ quan và công chức cao cấp! Y hệt ở miền Nam Việt Nam sau tháng Tư 1975!

Lịch sử vì sao bị lấp liếm giai đoạn nay? Câu trả lời thật quá dễ!

3- Nhân vật mới Phôm sa Vẳn lần này bỗng dưng trở thành lãnh tụ cộng sản lãnh đạo cách mạng Lào từ rất… sớm, rất nhiều thành tích (!) mặc dầu báo chí thế giới (cả C.I.A nữa) đều mất không ít công tìm hiểu xem ông ta ở đâu mà ra, khi thành lập chính phủ liên hiệp, ông ta xuất hiện như nhân vật quan trọng hoàn toàn mới, đứng đầu Pathet Lào, trên cả Hoàng Thân Suphanuvông với 1500 quân Pathet Lào trở về sát nhập vào quân đội của vương quốc, đường đường như một lãnh tụ của một tổ chức chính trị đối lập! Còn lãnh tụ của Neo Lào Hắc Xạt mà chủ tịch là Souphanuvông thì do chỉ nhận có chức Bộ Trưởng Tái Thiết-Công Chính trong chính phủ liên hiệp thôi nên cứ ngày một “mờ” dần để rồi được thay thế chính thức bởi ông Phôm Vi Hẳn bố Lào mẹ Việt trong mọi cuộc ra mắt hoặc được sắp xếp đương nhiên ngang hàng nhau khi gặp gỡ, ra tuyên bố giữa lãnh tụ hai nước Lào- Việt!

294_DS_bacho_dacbiet%5B1%5D.jpg
Hồ chủ tịch tiếp đón Thủ tướng chính phủ Liên hiệp Souvana Phouma và Hoàng thân Souphanuvông

Cho đến năm nay thì cái tên Phôm Vi Hẳn bỗng dưng được đẩy lên thành “người cùng Hồ Chủ Tịch dày công xây dựng tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào”! Riêng vai trò của Hồ Chí Minh trong “thắng lợi rực rỡ của cách mạng Lào” cũng được khẳng định là….: “Nhờ có Bác Hồ sáng suốt thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương”!? Trên kênh ANTV còn có cả một buổi phát sóng lấy cái tên rất… “vỗ ngực tự hào” là… ”Dấu ấn Hồ Chí Minh trên đất nước hoa Chăm Pa” nữa!

4- Ngay cái vụ kỷ niệm 50 năm ký kết ngoại giao với chính phủ liên hiệp vương quốc Lào (5/9/1963) đang được tuyên truyền ầm ĩ và kéo dài mấy hôm nay, đố tìm thấy một câu “hiệp định đó ký kết với ai”? Tất cả đều được tuyên bố lấp lửng! Không một bài báo nào dám viết và công bố cái hiệp ước ký kết giữa chính phủ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa và Chính Phủ Liên Hiệp Vương Quốc Lào cả! Và tất cả những người đã hồ hởi ngồi vào bàn ký kết, bắt tay rồi ôm hôn, đã bị lịch sử của Đảng… “xóa sổ” là tại sao? vì lý do gì? Quả là khó giải thích và cũng không có cách nào giải thích khi chính người Lào cũng phủ nhận rằng cuộc chiến tranh chống Mỹ tại Lào là không phải của họ, không do họ và không vì họ!

Còn các cái tên như nhà vua Vatthana, Hoàng Thân SouvanaPhouma, tướng Coong le, sau năm 75, khi Pathet Lao tiến quân vào Vientiane thì số phận họ ra sao? Không một dòng tin về những con người đã từng được bắt tay hợp tác thắm thiết! Một sự lấp liếm cố tình?

Sở dĩ tớ dám nói cụ thể chuyện chiến tranh chống Mỹ ở trên đất Lào là “vì Việt Nam, do Việt Nam” là bởi vì chính một số người Lào có cương vị khá to trong chính phủ nói thẳng vào mặt bọn tớ khi đầu những năm 80, tớ đi cùng NSND Phạm Kỳ Nam sang Lào để làm “hộ” bạn bộ phim “Tiểu Đoàn 2”, một sự giúp đỡ rất vô duyên và tốn kém khi các nhà Tuyên Huấn của “Ta” muốn “chế biến” lại cái lịch sử đánh Mỹ-Ngụy (Lào) của PathetLào…bằng cái chuyện “chiến đấu anh dũng” của Tiểu Đoàn 2, đơn vị đã sát nhập với quân đội vương quốc! Nhưng cuối cùng, sau 6 tháng vất vả trên các chiến trường xưa, khi bộ phim hoàn thành, đem chiếu cho Bộ Văn Hóa và Cục Điện Ảnh Lào sơ duyệt thì đã bị hàng loạt câu phê phán không nể nang mà cả hai thằng đều biết tiếng Pháp chúng tớ (Kỳ Nam+Tô Hải) muốn chui xuống đất cũng không được “non! non! Ce n’est pas vrai! c’est inacceptable..: Không! không thể chấp nhận được! Chuyện không thật! Bịa đặt qúa nhiều!”

Không thể tưởng tượng nổi người Lào đâu có bắn nhau như thế! vv…vv
Bộ phim đã không được đem chiếu,… để rồi… phải sửa chữa, sửa mãi đến nát bét cả phim ra rồi… đi đến kết luận được bạn hoàn toàn đồng ý: đưa về Việt Nam để sửa chữa đến. ..muôn năm! Một bài học cho cái nghề tuyên huấn chuyên bịa ra sự thật hoặc bóp méo Sự thật! Đặc biệt trong những lúc nói chuyện tâm tình với ông bạn Kỳ Nam học ở Pháp về và tớ nói tiếng Pháp cũng không tệ, ba anh cán bộ kể cả Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa, và cục trưởng cục điện ảnh Xôm Chít đều tha hồ “tự do tư tưởng”. ..Và gần như cả mấy cái đầu “phức tạp vì văn hóa Tây” này đều đi tới kết luận: “Không có cái cuộc chiến bẩn thỉu này thì đâu có chuyện cái xứ Đông Dương này cứ đánh nhau suốt và bọn mình cứ phải tranh cãi về những chuyện không đâu này!” Và những ngày sống kéo dài trên đất Lào để cố gắng cắt gọt, sửa chữa bộ phim “Tiểu Đoàn 2”, được đi đây đi đó, mình càng ngộ ra là:

a-/ Nếu không có ba cái anh tự nhận mình là cộng sản quốc tế, muốn đưa cái dân Lào hiền lành như đất này tới thiên đường cộng sản thì nước họ ngày nay cũng vẫn là một vương quốc, một đất nước thanh bình, chẳng bao giờ đánh nhau với ai, chẳng khi nào thiếu đói vì đất đai rừng núi. . thừa nuôi gần 3 triệu dân họ “một ngày làm, ba ngày lễ hội” từ bao đời!

b-/ Người Lào quá hiền lành để có thể phản ứng hoặc chống lại những sự xâm lăng rõ rệt khi những đội quân tình nguyện đầu tiên đổ bộ vào Sầm Nưa, Phong Xa Lỵ, .Xavanakhet, Cánh đồng Chum có khi lên đến 50.000 người để giup bạn “giải phóng” đất nước (?!) và nhất là từ tháng 5/1959 trở đi, người bắcViệt Nam bắt đầu mở đường Xẻ Giọc Nước Lào đi cứu….cả 3 nước Việt-Lào-Căm-pu-chia! Chưa có thống kê nào tách bạch được số lượng bom Mỹ đổ trên đường mòn Hồ Chí Minh thì phía Lào hay phía Việt Nam phải hứng chịu nhiều hơn?

Cho đến khi rút đoàn làm phim về, mấy anh Lào-Việt nói tiếng Pháp còn gặp nhau nhiều lần tại nhà một tay dược sỹ kinh doanh Việt Kiều đã từng đi trên 20 nước trên thế giới, nói thạo 4 thứ tiếng và đặc biệt có nhiều tài liệu báo hiệu sự xụp đổ tất yếu của chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới để loạn đàm và xem đủ loại phim vidéo rất khó kiếm ở cái đất Việt mình! Tới nay tớ vẫn còn giữ cuốn “Từ một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” của Roger Garaudy của dược sỹ Henry Phan tặng như một thứ quốc cấm cho mãi đến khi về hưu (1986) mới dám đặt nó lên tủ sách một cách đàng hoàng (nghĩa là những năm 1980, chuyện đi lại, tự do, sách báo, phim ảnh bên Lào đã còn “tự do” hơn bên ta cả mấy cái đầu).

Hôm nay đây, nếu ai có quyền hoặc có khả năng đi lục tìm trong kho lưu trữ của xưởng phim truyện Hà-Nội, thử cắn răng tìm lại bộ phim truyện có tên “Tiểu Đoàn 2” của đạo diễn Kỳ Nam (tên “Lào giả vờ” là gì tớ không nhớ) coi lại xem lịch sử Lào đã bị bôi bác ra sao! Nếu thấy tên nhạc sỹ: Sonhathuy chính cống là tớ đấy! Cũng có thể mấy ông Lào tiến bộ đã quẳng nó vào lửa vì chạm tự ái dân tộc do bị mấy nhà làm phim Việt khoác cho cái tội “hiếu chiến”, ”anh em một nhà chém giết lẫn nhau” như chính Xom Chit đã tuyên bố “Không thể có chuyện người Lào bắn giết nhau như những cảnh trong phim này được!” mà họ đã đốt nó đi như đốt vàng mã rồi!

..Nếu thế cũng hay. Đỡ bị…. xấu hổ!

Nói láo, làm láo đâu có thể tồn tại với lịch sử..!

Vậy mà hàng ngày chúng ta cứ phải vô tình nghe phải, đọc phải những điều cực kỳ, LẤP LỬNG, LỪA LỌC, LẤP LIẾM, LỐ LĂNG, LẬT LỌNG, LẾU LÁO để tức đến… LỘN LÈO!

Thì: Mấy ai nắm rõ Sự Thật như tớ, mà không phát tức đến phải… văng tục vài câu cơ chứ!

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Đào Hữu Nghĩa Nhân – Bất chiến tự nhiên thành!

Điều 4

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Trên đây là Điều 4‎ hiến pháp nước CHXHCNVN. Cái điều mà bất cứ quốc gia đa đảng nào nhìn vào cũng biết ngay nước ta là nhà nước độc Đảng và chỉ duy nhất do Đảng cộng sản lãnh đạo. Truyền thông nước ngoài thường gọi nước ta là nhà nước cộng sản. Tên gọi này cũng khiến cho vài tay viết lách của Đảng bực mình vì bảo rằng có ý bôi nhọ này kia, thật không sao hiểu nỗi!? Ngoài ra các “thế lực thù địch” của Đảng ta cũng chỉ trích điều 4, vì cho rằng nó chính là lực lượng ngăn trở việc đa đảng, làm cho đất nước ngày càng nghèo đói, tham nhũng thuộc hàng thượng thừa của thế giới. Đã hết đâu khi độc đảng việc lựa chọn người tài về điều hành đất nước cũng quá ư là giới hạn. Nhìn quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mỗi nhóm người tận trung với đảng, tức là đảng viên và nhóm thái tử đảng. Cơ khổ đôi khi sự tận trung lại là một cơ hội lớn để đớp hít. Thực tế cũng khó chứng minh điều ngược lại, nếu không muốn nói chúng đã trở thành quy luật tất yếu của Đảng ta! Còn nhóm thái tử Đảng được đặt ngồi lên ghế, bú mớm tận miệng nhưng xem ra cũng chỉ có số ít người “thành danh”, đa phần cũng chưa có gì xuất chúng! Còn chọn bọn ngoài Đảng thì e cái sự trung thành của chúng, ít chịu phụng sự vì Đảng. Điển hình vụ Đặng Thị Hoàng Yến mới vào QH chưa bao lâu bị lôi ra ngoài, còn thằng em nghe đâu cũng tay tổ trong nghề buôn tiền! Tại vị chỉ là những thằng khùng, chuyên làm trò hề như Hoàng Hữu Phước, ăn nói linh tinh!

Chính cái sự thiều thốn tài năng lãnh đạo ấy mà đất nước cứ mãi tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc thành quốc gia tham nhũng hàng đầu thế giới. Thành tích xoá đói giảm nghèo không biết ra răng mà có tỉ lệ người nghèo gần đứng nhất khu vực. Công nghiệp hoá gần đến đích rồi(2020) mà chưa làm ra nổi con dao cạo râu, công nghiệp lắp ráp, gia công là chính. Đặt khu công nghiệp chổ nào là làm biến đổi môi trường nơi đó theo hướng ô nhiễm. Tạo ra các mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Sản xuất nông nghiệp, khai khoáng chỉ để xuất bán thô nguyên liệu cho nước ngoài. Phát triển chủ yếu bằng khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên . Thuế má thuộc hàng cao nhất thế giới. Một trong những nguyên nhân thúc đẩy việc làm hàng kém phẩm chất, sử dụng nguyên liệu công nghiệp đưa vào trong sản xuất thức ăn cho người. Nông dân trồng rau thay vì dùng loại thuốc trừ sâu thân thiện trên sức khoẻ con người lại dùng thuốc trừ sâu trên cây cao su để diệt sâu ăn lá, thức ăn chăn nuôi dùng các chất tăng trọng cấm, vô tư gây hại cho người tiêu dùng…! Thuế cao cũng góp phần làm cho đồng lương công nhân teo tóp,…tạo nên một đội ngũ doanh nhân ma mãnh, lừa đảo, chuyển giá, trốn thuế,…để tăng tối đa lợi nhuận. Điều cực kỳ nguy hại cách sử dụng cán bộ quản lý thân quen sẽ phát sinh ra các nhóm lợi ích, mafia nhà nước làm lũng đoạn kinh tế, thâu tóm mọi nguồn lực quốc gia dành riêng cho chúng!?

Điều đáng sợ hơn đó là để đảm bảo sự trường tồn lâu dài của đảng trị, Đảng đã xây dựng nền giáo dục không phản biện. Đào tạo ra một thế hệ người học luôn xem những nguyên lý, tư tưởng, những hành động, lợi ích của Đảng là cái duy nhất đúng. Chính cái thế hệ con người được giáo dục không phản biện sẽ tạo ra một xã hội chết, không sáng tạo. Con người của nền giáo dục đảng trị chỉ là con người của máy móc, rập khuôn, an phận!

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử từ khi sống trong hang, trong bưng lập cứ. Quá trình phấn đấu của Đảng ta phải nói là khá đáng nể cho dù đôi lần cũng phải cõng rắn mãng xà về để tiêu diệt các thế lực thù địch cũng không ít! Nói chi thì nói mèo trắng mèo đen không quan trọng. Quan trọng là miu ấy có bắt chuột và xơi chuột hay không? Câu trả lời tất yếu là chúng bắt chuột cực tài vì là mèo ngoại mà! Túm lại sự thành công của Đảng cho đến hôm nay luôn có vai trò quan trọng là sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em. Mà trong đó anh em cho đến giờ đảng ta vẫn còn ra rả nhắc nhớ và ghi mãi công ơn to lớn của chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em như răng với môi-môi hở răng lạnh!

Cái thằng khốn là ở chổ làm ơn vậy mà đết có vô tư trong sáng với tinh thần không vụ lợi gì cả! Thật ra nó bỏ con săn sắt để bắt con cá rô! Trong thời kỳ khó khăn của “ta” 1958 mà nó bắt Phạm Văn Đồng phải ký cái công hàm chết tiệt, để giờ đây cơ đồ ra nông nỗi. Biển Đông về mặt nghĩa đen nó đã độc chiếm hoàn toàn. Thành Phố Tam Sa đã thành lập xong, chuyên lo cái chuyện hậu sự cho mấy chục ngàn tàu đánh cá hiện tại đang ngày đêm cào vét ngoài biển Đông, và khai thác dầu khí trong tương lai! Nói về so sánh tương quan hơn hẳn chuyện nước ta thành lập cái huyện đảo Hoàng sa, không dân chúng, không có đất,… chỉ mỗi cái trụ sở mượn tạm thành phố Đà Nẳng với nhiệm vụ chính trị là chính, chẳng nên cơm cháo gì!

Sở dĩ có dông dài một chút về cơ chế độc đảng phát sinh những điều tệ hại của Đảng ta là ngõ hầu để nhấn mạnh cái nguyên lý cạnh tranh để sinh tồn của các loài trong tự nhiên.Tư tưởng hay đảng phái cũng không là ngoại lệ, thậm chí nó lại là động cơ giúp cho xã hội loài người bình đẳng và bác ái hơn như cái tiêu chí mà Đảng cộng sản hướng tới khi thành lập chính đảng của mình. Tiếc thay, lựa chọn con đường để vươn tới mục đích bình đẳng và bác ái chỉ bằng…mồm! Ngoài ra còn có một nguyên nhân chính bao trùm lên tất cả các sự kiện khiến cho các xã hội cộng sản bất ổn là sự tập trung trí tuệ toàn dân tộc để phát triển đất nước không hiệu quả. Đây là một thực tế không thể chối bỏ và tranh cãi. Đảng cộng sản kêu gọi toàn dân tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nhưng về thực tế thì chỉ có mỗi mình Đảng “cô đơn” làm. Bạn cứ nhìn vào thực tiễn đời sống sẽ thấy đó là chính xác. Đất nước không có những con người có tấm lòng cao cả với quốc gia. Nếu có thì họ có những đòi hỏi cải tổ theo hướng minh bạch và dân chủ hơn nhưng lại trái với nguyên lý độc tài, và dĩ nhiên thay vì được lắng nghe và thấu hiểu họ lại ngồi trong tù gỡ lịch, nếu không cũng bị gán cho các nhãn quan “thế lực thù địch”, “phản động”, “lật đổ chính quyền nhân dân”,…? Nói thế cũng bất công, không phải là không có những người làm từ thiện nhưng dạng này chỉ là từ thiện báo chí, khoe mẽ cái sự từ tâm và giàu có. Mục đích để PR, quảng cáo thương hiệu là chính.

Từ đây bất mãn xã hội dâng cao hơn bao giờ hết trong thế giới cộng sản. Cá nhân thay vì chuyên tâm nghiên cứu, sản xuất để làm giàu cho đất nước, cho chính bản thân mình thì lại làm những chuyện mang tính phi vụ, lừa đảo, ăn xổi ở thì. Bàn luận chuyện làm giàu bất chính. Người học chỉ toàn chọn ngành nghề nhẹ nhàng hái ra tiền như bác sĩ, ngân hàng, kinh tế, tài chính, kế toán,… Rất ít người chọn các ngành kỹ thuật. Kỹ thuật thì chọn nghành khai thác dầu khí, học lái máy bay,… Riêng cơ khí chế tạo, nghiên cứu sản xuất các sản phẩm có ích cho xã hội hầu như ít ai chọn. Các ngành về nghiên cứu cơ bản lại càng vắng bóng. Có một điều khá buồn cười người chế tạo ra các công cụ sản xuất như máy gặt đập liên hợp, máy bay trực thăng lại là nông dân! Thanh niên hoạt động đảng đoàn chỉ chăm chắm vào cái ghế chính trị trong tương lai. Phục vụ hay dấn thân vì cộng đồng chỉ là trò mèo mị dân của các nhà chính trị, chỉ tạo ra hiệu ứng bề nổi để có thành tích báo cáo, tiến thân,…Chưa có thời nào chức vụ hái ra tiền như thời này. Thời buổi này đố có nhà lão hay bà công bộc nào nghèo kiết xác!?

Sự bất mãn xã hội không chỉ trong xã hội dân sự mà còn lan ra trong nội bộ Đảng độc tài. Lịch sử cũng cho thấy rằng chưa có chế độ cộng sản nào chưa xảy ra vấn đề đấu đá, thanh trừng nội bộ. Nhẹ thì những kẻ lãnh đạo phe thua trận phải ra đi lưu đày, thậm chí bỏ mạng. Nặng hơn có thể làm sụp đổ cả chế độ. Nước Nga cái nôi của cộng sản cũng đã từng đấu đá thanh trừng nội bộ nỗi tiếng qua vụ chủ nghĩa xét lại khiến cái thi hài của Xít Ta Lin phải bị đem đi chôn, Trung quốc thì vô địch về chuyện này. Gần đây nhất là vụ Bạc Hy Lai ngã ngựa. Việt Nam cộng sản không là một ngoại lệ trong lịch sử của mình nào là Trần Xuân Bách, thậm chí cả ông Hồ cũng từng là nạn nhân của tranh giành quyền lực! Đỉnh điểm cuộc chiến cạnh tranh quyền lực của cộng sản Việt Nam trong hiện đại là cuộc chiến phe phái giữa hai nhóm chính trị quyền lực. Đáng mừng thay động thái của cuộc chiến này ngày càng có nhiều tình tiết cực kỳ hấp dẫn, hứa hẹn một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai nhánh đảng tồn tại trong một đảng. Con khủng long ăn thịt khổng lồ trở thành bạo chúa trong nhiều thế kỷ. Nó chỉ bị tiêu diệt khi biến đổi khí hậu,… Đảng cộng sản cũng chẳng dễ gì diệt vong hoặc chấp nhận tồn tại một đảng đối lập bất kỳ nào khác. Vì vậy sự xung đột của hai phái trong nội bộ Đảng cũng là cái quy luật tất nhiên. Mừng thay cái quy luật ấy ngày càng tỏ rõ hình hài của cái ung nhọt độc, ẩn chứa tế bào ung thư ở giai đoạn cuối. Giai đoạn bộc phát và vô phương cứu chữa! Có chăng “các thế lực thù địch” của Đảng bất chiến tự nhiên thành!?

Cũng có thể sự đấu đá lần này là thoả hiệp và phân chia quyền lực. Và vì thế mọi chuyện vẫn chưa có gì thay đổi thật sự theo hướng kỳ vọng của đa số đông.

Không biết vì tham vọng gì, Đảng mong muốn biến cả đất nước này hoá thân thành một thể thống nhất trong cơ thể Đảng đầy bệnh tật? Để rồi khi cơ thể ung thư của Đảng ta đi vào cõi chết, kéo theo cả dân tộc cùng chết trong đói nghèo, lạc hậu? Điển hình mỗi lần đấu đá, thanh trừng nội bộ trong cơ thể Đảng ta là y như rằng đất nước đứng trước lâm nguy. Hoạ xâm lăng từ phương bắc, nguy cơ sụp đỗ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nợ nần!

Tiếc rằng khoảng gần 3 triệu Đảng viên còn lại bổng lộc chẳng là bao, quyền lợi chính trị cũng be bé, lại im lặng theo dõi tình hình thế sự, rồi bàn bạc trên bàn nhậu là chính!

Đảng còn độc quyền lãnh đạo, Đảng còn cô đơn trong xây dựng đất nước với sự góp sức của những tay chính trị lừa đảo, các nhóm lợi ích cá mập, một rừng các “thế lực thù địch” vây quanh Đảng. Đảng kêu gọi cả dân tộc này chung tay hiệp sức cùng Đảng, đi theo con đường của Đảng vạch ra, toàn dân đoàn kết một lòng nguyện đứng dưới lá cờ hoà hợp hoà giải dân tộc chỉ là chuyện “miệng quan trôn trẻ”. Đảng còn một mình một chợ, lòng dân còn mãi chia rẽ đời đời! Nội bộ Đảng lúc nào cũng có đấu đá và thanh trừng lẫn nhau thế kia thì bảo sao dân chúng hoà hợp với Đảng? Một Đảng như thế tồn tại lâu dài phải chăng vì lợi ích chính đảng của mình hơn là lợi ích của dân tộc này, đất nước này?

Đảng còn độc tài, còn chơi bền bỉ với những gã bạn xấu như Cuba, Bắc Triều Tiên, Nga ngố, Zibawue, Trung Quốc, Venezuela,… bởi vì nó đảm bảo cho tiếng nói ủng hộ lẫn nhau trên trường quốc tế,cũng như nguồn lực viện trợ tài chính.

Đảng còn độc tài, còn sử dụng các cá nhân trung thành nhưng bất tài, còn tiếp tục trong vòng lẩn quẩn đấu đá tranh giành quyền lực phe phái, còn đó một đất nước loanh quanh trong tình trạng kém phát triển kéo dài!

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Thư tạ ơn của vợ chồng Huỳnh Thục Vy

Tin liên quan:

Kính thưa quý cha, quý thầy cùng tất cả quý vị thân hữu hải ngoại – quốc nội,

Con (em) không phải là người có nhiều kinh nghiệm tương tác với cộng đồng do những bất tiện của hoàn cảnh riêng và do cá tính trầm lặng hình thành từ những ngày thơ ấu bất hạnh. Dẫu thâm tâm con (em) hiểu sâu sắc rằng, tuy được độc lập tương đối về ý chí, mỗi một cá nhân không thể tồn tại tách biệt với cộng đồng.

Như một sự xếp đặt của duyên nghiệp, chính con (em) lại là người được đón nhận nồng hậu, được giúp đỡ tận tình và được yêu thương chân thành. Điều đó đã khiến con (em) xấu hổ mà nghĩ rằng nếu mình không thể mở lòng ra cùng mọi người qua những dòng này thì đó là một thiếu sót không thể thông cảm. Những dè dặt, thậm chí là hoài nghi của con (em) về cuộc đời và con người đã lớn dần trong con (em) theo những ngày tháng thiếu may mắn. Nhưng hôm nay, con (em) biết mình phải dừng lại để đặt lại vấn đề và suy nghĩ về tất cả.

Cuối cùng, hôm nay, con (em) – Huỳnh Thục Vy – đã chính thức nhận chồng con – anh Lê Khánh Duy – làm chồng, nhận một người đàn ông đã cùng con (em) trải qua nhiều khó khăn trong thời gian vừa qua và tiếp tục làm người đồng hành đầy yêu thương, tôn trọng và tin cậy. Sau tất cả những trắc trở mà hiện thân chính trị của sự Ác đã giăng ra, chúng con (em) đã trở thành vợ chồng, cũng như nhận gia đình của nhau làm gia đình của mình. Chúng con (em) rất đỗi vui mừng. Mọi việc đã diễn ra tốt đẹp và suôn sẻ. Kết quả đó là điều chúng con (em) hằng mong đợi, nhưng không phải sức chúng con (em) có thể làm được, nếu không có sự trợ duyên của quý cha, quý thầy và quý thân hữu trong suốt thời gian qua.

Ngày hôm qua, ngày 9 tháng 9 năm 2012, trong Thánh lễ tôn nghiêm và trong tiệc cưới thân mật, hai gia đình chúng con (em) đã được vinh hạnh đón tiếp những con người đầy tri thức và tâm huyết với quốc gia. Sự có mặt và tình cảm thương yêu của quý vị đã mang đến cho vợ chồng con (em) niềm hãnh diện không thể thay thế. Đó là sự hãnh diện được đứng cạnh quý vị trong hàng ngũ những con người thiện hảo, những con người đấu tranh không mệt mỏi để thăng tiến giá trị Tự do, Công lý và xua tan bóng tối của sự Ác. Đó là sự hãnh diện được đón nhận tấm lòng thương yêu, sự chia sẻ từ những bậc trưởng thượng đức hạnh, đáng kính dành cho đứa con gái nhiều khuyết điểm như con (em).

Không có ngôn từ nào có thể diễn tả cảm xúc hân hoan tràn ngập trong lòng chúng con (em). Bởi thật khó để dùng những ngôn từ nhỏ bé trong một giới hạn ngôn ngữ hạn hẹp để bày tỏ lòng tri ân, sự tin yêu sâu sắc mà con trao gởi nơi quý vị và cũng không dễ để quý vị có thể hiểu sự cảm nhận của chúng con rằng chúng con là một cặp đôi đầy may mắn.

Sự bất toàn của chúng con (em) đã được mọi người đáp lại bằng tình thương. Sự kém may mắn của chúng con (em) được mọi người trao gởi những giúp đỡ tận tình. Và hơn tất cả, hạnh phúc đôi lứa chúng con (em) được sự chúc phúc của tất cả mọi người đã có mặt trong bữa tiệc, cũng như những người đã âm thâm cầu chúc cho chúng con mọi điều an lành.

Chúng con (em) đặc biệt tri ân:

- Cha Giám tỉnh Dòng Chúa cứu thế Việt Nam – cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành

- Hòa thượng Thích Viên Định – Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.

- Cha Anton Lê Ngọc Thanh và cha Juse Đinh Hữu Thoại, dòng Chúa cứu thế Sài Gòn

- Thầy Thích Thanh Tiếp – nhà thơ Y Chu

- Cùng tất cả quý vị nhân sĩ, trí thức hải ngoại cũng như quốc nội đã giúp đỡ chúng con (em) trong thầm lặng.

Xin đa tạ tất cả các anh chị em trong Truyền Thông dòng Chúa cứu thế Sài Gòn và nhóm No-U Sài Gòn.

Hôm nay chúng con (em) đã về quê vội vàng sau tiệc cưới ở Sài Gòn, và cũng vội vàng không kém khi viết những dòng này. Xin quý vị lượng thứ cho những thiếu sót của con.

Xin một lần nữa cung kính ta ơn quý cha, quý thầy và tất cả quý vị thân hữu.

Kính thư
Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ, ngày 10 tháng 9 năm 2012

pheplanhthvy.jpg

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Trương Duy Nhất – Bốn câu hỏi cho Hội nghị 6

Nhóm lợi ích là nhóm nào? Bộ phận không nhỏ là bộ phận nào? Một bầy sâu là bầy nào? Ai, kẻ nào cõng rắn cắn gà nhà?

Xác định “nhóm lợi ích” và “bộ phận không nhỏ” là “nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng và chế độ”, nhưng lại không chỉ ra được cái “nhóm lợi ích” đó là nhóm nào và “bộ phận không nhỏ” là bộ phận nào? Tại sao cả “một bộ phận không nhỏ” nhưng vẫn không chỉ ra được, không bắt tận tay day tận mặt được anh nào?

Nói bộ máy đảng viên chức quyền như “một bầy sâu”. Cả một bầy sâu nhưng lại không phát hiện, không tiêu diệt nổi một con sâu nào. Bầu Kiên, Lý Xuân Hải, Dương Chí Dũng, hay một cậu quản lý văn phòng đại diện của công ty cổ phần đầu tư Sài Gòn và cô nhân viên hành chính công ty cổ phần đầu tư – công nghiệp Tân Tạo có phải là những con sâu đến mức “ăn hết phần của dân” như ám chỉ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang?

Hay còn đâu nữa? Liệu có con sâu nào trong Bộ Chính trị, trong hàng ngũ trung ương ủy viên bị phát hiện trong đợt tắm rửa vừa rồi? Nếu không có, không chỉ ra được, tại sao Tổng Bí thư lại ám chỉ rằng “có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo suy thoái”. “Lãnh đạo suy thoái” là lãnh đạo nào, ai?

Thậm chí đến mức Chủ tịch Sang còn nói đã có thế lực “cõng rắn cắn gà nhà”, nhưng lại không chỉ ra được ai, kẻ nào rắp tâm phản quốc?

Hội nghị 6 (dự kiến diễn ra tháng 10 tới) phải trả lời được 4 câu hỏi này:

1. Nhóm lợi ích là nhóm nào?
2. Bộ phận không nhỏ là bộ phận nào?
3. Một bầy sâu là bầy nào?
4. Ai, kẻ nào cõng rắn cắn gà nhà?

Không trả lời rõ ràng nổi 4 câu hỏi đó thì coi như chiến dịch tắm rửa với mong muốn làm sạch đảng như tinh thần nghị quyết 4 thất bại.

Đây là cơ hội để ông Nguyễn Phú Trọng có thể xóa đi được hình ảnh “ông giáo làng nhu mì” như tôi và nhiều người đã nhìn xét ngay từ những ngày đầu nhậm chức. Đây là cơ hội để ông Trương Tấn Sang khẳng định được vai trò và vị thế nguyên thủ đúng nghĩa.

Và hơn cả, đây là cơ hội để đảng tự rửa sạch mình, để môi trường chính trị thật sự sạch trong hơn. Là cơ hội để tái cấu trúc lại chính phủ, tái cấu trúc lại thế chân kiềng đảng- nhà nước- chính phủ trước khi nói đến tái cấu trúc bất cứ điều gì.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Song Chi – Ở Việt Nam, nghề nào sướng/vinh, nghề nào khổ/nhục?

Nếu nhìn vào các thang bậc đánh giá và cách ứng xử của một nhà cầm quyền đối với nhân dân dựa trên những vị trí nghề nghiệp khác nhau trong xã hội, người ta có thể thấy rõ bản chất của nhà cầm quyền đó hơn mọi lời nói hoa mỹ hay nghệ thuật tuyên truyền hữu hiệu nhất.

Và như vậy, trong xã hội VN hiện tại, những loại nghề nghiệp nào là bị nhà nước cộng sản và cái hệ thống bộ máy tạo nên chế độ này khinh rẻ nhất, đối xử tệ bạc nhất?

Không chỉ là nông dân và công nhân-hai tầng lớp một thời đã được đảng và nhà nước cộng sản gọi là lực lượng nòng cốt của cách mạng, thành phần tinh hoa của chế độ…và thực sự là đã có một thời, nông dân, nhất là giai cấp bần cố nông và công nhân được hưởng nhiều sự ưu ái của chế độ. Đó là khi đảng cộng sản còn cần dựa vào hai tầng lớp đông đảo này để cướp chính quyền, và thời kỳ đầu xây dựng nước VNXHCN ở miền Bắc theo mô hình của Liên Xô, Trung Quốc thời bấy giờ. Nhưng thời đó đã qua từ lâu.

Nông dân và công nhân vẫn là hai lực lượng chính còng lưng nuôi cái chế độ này, nuôi đất nước này bằng những hạt gạo xuất khẩu đổ mồ hôi sôi nước mắt và những giờ lao động vắt kiệt sức mình trong các nhà máy. Nhưng thu nhập của họ, đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ ra sao so với những thành phần khác trong xã hội VN bây giờ, có lẽ không cần phải nói nhiều nữa. Những ai muốn tìm hiểu, xin mời đi về nông thôn, đi vào những nhà máy mà xem nông dân, công nhân VN đang sống ra sao.

Mà có khi cũng chẳng cần đi đâu xa, cứ đọc những bài báo do chính báo chí trong nước đưa tin về những sự việc như hàng người từ nông thôn kéo lên thành phố đi biểu tình, khiếu kiện về đất đai, cảnh người nông dân bị bắt, bị phạt do xô xát với bộ máy công an, dân quân trong những vụ khiếu kiện này, hay hiện tượng hàng ngàn cô gái trẻ ở nông thôn sát biên giới phía Bắc hay miền Tây Nam Bộ bỏ đi lấy chồng Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc để thoát nghèo…là đủ hiểu.

Hãy đọc những bài báo viết về những vụ đình công hàng ngàn hàng vạn người của công nhân vì mức lương rẻ mạt và điều kiện lao động khắc nghiệt, về những bữa cơm thiếu chất và chỉ toàn những món ăn thiu thối giá rẻ, những phòng trọ chật hẹp tù túng…của công nhân.

Nhà nước cộng sản VN đã phản bội lại hai giai cấp từng giúp họ giành và giữ chính quyển đắc lực nhất của thời kỳ đầu. Còn những thành phần nào trong xã hội bị họ khinh miệt, chà đạp nữa?

Đó là nhà giáo. Một mặt, nhà cầm quyền luôn tâng bốc tầng lớp giáo viên, giáo sư là những “kỹ sư tâm hồn”, cũng không có quốc gia nào trên thế giới này có hẳn một ngày Hiến chương các nhà giáo hay còn gọi là Tết thầy cô 20 tháng 11 như VN…Nhưng trong thực tế, lương nhà giáo luôn luôn thuộc loại thấp trong xã hội, các nhà giáo muốn sống được phải đi dạy thêm miệt mài hoặc phải làm thêm những công việc khác.

Thu nhập thấp là một trong những lý do chính khiến nhiều thí sinh không muốn chọn Sư phạm khi ghi danh thi Đại học. Nói về chuyện chọn ngành nghề này, ở VN, giới trẻ từ những năm 60-70 đã truyền miệng câu: “Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa, bỏ qua Sư phạm”. Sau này khi xã hội chuyển đổi qua nền kinh tế thị trường, những ngành nghề được ưa chuộng có thêm Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính kế toán…nhưng vẫn không có Sư phạm!

Dư luận, báo chí đã từng nhiều lần lên tiếng về chuyện thu nhập, lương bổng của nghề giáo. Chỉ cần điểm qua một vài bài mới nhất: “Nửa số giáo viên hối hận vì nghề đã chọn” (RFA), từ kết quả khảo sát của Viện Khoa học Giáo dục vừa công bố trong tháng 8.2012 mà hai trong nhiều lý do chính là vì lương thấp và không được xã hội coi trọng! Hay bài “Giáo viên mòn mỏi chờ phụ cấp thâm niên” (báo Người Lao Động), “Chế độ cho giáo viên quá chậm” (Báo Giáo dục Việt Nam), “Phải tôn trọng giáo viên” (Báo Người Lao Động)…là cũng đủ thấy.

Hậu quả của việc thu nhập thấp, không coi trọng công sức nhà giáo này là một trong những lý do khiến chất lượng giáo dục ở VN ngày càng tồi tệ, dù đã qua 3 lần cải cách, dù luôn hô hào đổi mới, hoàn thiện nền giáo dục!

Đó là nhà báo. Một cái nghề rất thú vị, hữu ích cho xã hội. Ở các quốc gia, nghề báo luôn luôn là một trong những sự quyến rũ lớn. Và trong một xã hội tự do dân chủ, báo chí được xem là quyền lực thứ tư, nhà báo có những quyền hạn nhất định và được luật pháp bảo vệ để có thể viết lên sự thật và không gì ngoài sự thật. Người ta đã từng chứng kiến một vị Tổng thống hay cả một chế độ phải bị sụp đổ đôi khi chỉ vì một bài báo. Nhưng ở VN thì sao?

Ngày 7 tháng Chín vừa qua nhà báo Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ bị tòa kết án 4 năm tù với tội danh đưa hối lộ, mặc dù ai cũng thấy, hành vi của Hoàng Khương-một nhà báo nổi tiếng vì hàng loạt bài chống tham nhũng đặc biệt là tham nhũng trong giới công an, cảnh sát giao thông-hoàn toàn xuất phát từ mục đích lấy bằng chứng để viết bài, chứ không vì mục đích cá nhân, và bản án như vậy là quá nặng. Trước đó báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên đã từng có những nhà báo phải vào tù vì viết bài chống tham nhũng.

Bản án một lần nữa chứng tỏ trong xã hội VN, quyền lực báo chí chỉ là chuyện…ở nước nào khác, sức mạnh của truyền thông không bao giờ có thể đọ với sức mạnh của giới công an và quan quyền.

Không chỉ có thể dễ dàng bị bắt giam nếu viết bài đụng chạm đến những phạm vi lĩnh vực “nhạy cảm”, thân phận nhà báo VN còn nhục hơn cả…chó (!) khi chỉ được phép viết những gì mà đảng và nhà nước cho phép, nếu lỡ đi trượt ra ngoài là bị nhắc nhở, thổi còi, nặng hơn thì bị trừng phạt, bị bắt giam ngay. Nhà báo VN, nếu lỡ bị công an đánh khi đang tác nghiệp, chính cơ quan báo chí nơi họ làm việc và cả Hội nhà báo cũng không dám và không thể bênh vực như trường hợp hai phóng viên của VTC bị công an đánh khi đưa tin vụ Tiên Lãng mới đây.

Đó là những nhà báo làm cho báo chí nhà nước tức là dù sao cũng có “tóc” trên đầu, còn những nhà báo tự do, các blogger thì mọi nguy hiểm chờ chực trên đầu họ, mà vụ bắt giam tùy tiện các nhà báo của CLBNBTD chỉ là một trong rất nhiều ví dụ.

Khi một nhà cầm quyền khẳng định “báo chí phải là vũ khí của đảng”, bị các tổ chức Phóng viên không biên giới, các tổ chức Nhân quyền trên thế giới xếp hạng thấp về chỉ số tự do ngôn luận, tự do báo chí, là kẻ thù của internet…thì các nhà báo dù là báo “lề phải” hay “lề trái” làm thế nào có hy vọng được tôn trọng để có thể hoàn thành sứ mạng viết vì sự thật, vì sự tốt đẹp hơn của xã hội, vì quyền lợi của đất nước, nhân dân?

Đó là luật sư-một trong những cái nghề được xem là đáng mơ ước, đáng tự hào của nhiều em học sinh và phụ huynh khi quyết định ghi danh vào đại học ở các nước tự do dân chủ, vì thu nhập cao, có danh tiếng, được xã hội trọng vọng, đồng thời có thể giúp được người khác qua công việc của mình.

Nhưng ở VN, luật sư bị giới cầm quyền coi rẻ chả khác gì nhà báo. Do cách thức tổ chức một phiên tòa ở VN, luật sư chẳng bao giờ có cơ hội tranh cãi đến cùng và trổ tài hùng biện trước tòa như vẫn thường thấy trong những phiên tòa ở các nước dân chủ. Và trong những phiên tòa đã được sắp đặt sẵn hay còn gọi là án bỏ túi, thì lời nói của luật sư càng vô giá trị! Những năm gần đây, giới luật sư cũng là thành phần bị bỏ tù hoặc bị sách nhiễu nhiều nhất. Từ luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Trần Luật, Lê Quốc Quân, Trần Quốc Hiền, Lê Công Định v.v…

Đó là giới văn nghệ sĩ. Dưới sự lãnh đạo của đảng và nhà nước cộng sản VN, văn nghệ sĩ chỉ được phép sáng tác để ca ngợi đảng, ca ngợi chế độ. Trong thời kỳ đầu của chế độ, văn nghệ sĩ còn thường xuyên phải học tập và đi thực tế để nâng cao tư tưởng, giác ngộ cách mạng, thường xuyên có những cuộc kiểm điểm, phê và tự phê, những cuộc đấu tố để “rũ bỏ hết tất cả những tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, lạc hậu, phản động còn sót lại trong đầu”…

Trong những chế độ độc tài kiểu như chế độ cộng sản ở VN, văn nghệ sĩ cũng là thành phần khốn khổ nhất, dễ có nguy cơ bị nhà cầm quyền trừng phạt nhất khi họ cảm thấy ở người nghệ sĩ đó một mầm mống phản kháng, phê bình chỉ trích chế độ, vạch ra những cái sai lầm của chế độ, hay đỏi hỏi tự do sáng tác, tự do cho nhân dân…

Ngoại trừ vụ án Nhân văn Giai phẩm trước đây hay việc hàng trăm hàng ngàn văn nghệ sĩ miền Nam phải đi học tập cải tạo sau năm 1975, có ai biết chính xác con số bao nhiêu văn nghệ sĩ ở VN bị nhà nước trừng phạt? Còn nếu không muốn bị trừng phạt, phải tự nguyện từ bỏ cái tôi, làm bồi bút, làm nô lệ cho đảng? Để đến nỗi khi về già nhà văn Nguyễn Minh Châu phải ai oán kêu lên: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, nhà văn Nguyễn Khải “Đi tìm cái tôi đã mất”, nhà thơ Chế Lan viết những bài Sám hối, nhà văn Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương phải rời nước lưu vong, nhạc sỹ Tô Hải cay đắng viết “Nhật ký của một thằng hèn”….

Những nghề đáng lẽ ra phải được trân trọng trong xã hội đã bị nhà cầm quyền và cái chế độ này khinh miệt, coi rẻ đến vậy, đối lập lại, những nghề nào là ngon lành ngồi mát ăn bát vàng lâu nay?

Là quan chức. Nhưng phải là quan tham, chịu ăn chia, có phe có bè, chứ nếu quan mà thanh liêm, trong sạch, tử tế, đứng một mình thì cũng bị cái guồng máy này cho ra rìa ngay, rớt chức ngay. Một người làm quan cả họ được nhờ, càng ăn nhiều càng lên nhanh, mà lỡ có bị “lộ” hoặc do các phe đấu đá nhau khui ra, phải vào tù bóc lịch thì cũng đáng với số tài sản đã thu gom ba đời ăn không hết, như trường hợp các quan trong vụ Vinashines làm thất thoát, thua lỗ hàng tỷ đô la bị 20 năm tù, nhưng bảo đảm chỉ một phần ba thời gian là ra. Mà thật ra, những trường hợp như thế này hơi bị hiếm, còn lại là hạ cánh an toàn hoặc chuyển công tác…lên cao hơn!

Là công an, đã trở thành hung thần trong xã hội. Muốn bắt ai thì bắt, muốn đánh ai thì đánh, đạp vào mặt dân đi biểu tình, đánh cả nhà báo, đánh chết dân khi đang trong quá trình điều tra (về vụ này hơi bị nhiều, xin cứ vào google mà tra “công an đánh chết dân” sẽ ra hàng loạt, hoặc nếu ai có thì giờ, cứ theo dõi báo chí, mỗi lần có một vụ công an đánh chết người thì ghi lại, bảo đảm nhiều vô kể). Nhưng cũng chẳng bị làm sao cả. Lâu lắm mới có một vụ bị ra tòa, kêu án 4 năm tù như vụ công an đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng, nhưng nếu người dân mà xúc phạm đến công an là chuyện khác, như trường hợp cô gái tát công an bị 9 tháng tù, viết bài về công an ăn hối lộ như nhà báo Hoàng Khương thì 4 năm tù…

Một xã hội mà những nghề nghiệp từ lương thiện nhất đến cao quý nhất lại bị khinh rẻ nhất, trong khi sung sướng nhất là quan chức và công an thì xã hội đó, cái mô hình thể chế chính trị đó là đúng hay sai?

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Thông Báo

Ngày 24/10/2010 Dân Luận bị tấn công từ chối dịch vụ (DoS) trở lại, chúng tôi buộc phải bật các cơ chế phòng thủ, khiến độc giả truy cập khó khăn hơn. Xin độc giả hãy gửi các thắc mắc và đóng góp bài vở tới địa chỉ của Ban Biên Tập tại Banbientap@danluan.org.

Chào bạn!

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.

Mến,
Ban Biên Tập Dân Luận

Bài cũ

September 2012
M T W T F S S
« Aug   Oct »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Nhập vào đây địa chỉ email của bạn để nhận được thông báo bài mới từ blog của chúng tôi mỗi ngày!

Join 116 other followers

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 116 other followers