Dân Luận

không gian mở bày tỏ quan điểm công dân

Phạm Hồng Sơn – Cắt rời thủ đoạn

Ngọn cờ chống ngoại xâm

Trong tác phẩm nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Vietnamese Communism 1925-1945 (Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam 1925-1945), khi đánh giá về thành công của ĐCSVN trong việc giành được độc quyền về quyền lực trên toàn cõi Việt Nam kể từ mùa Xuân năm 1975, tác giả Huỳnh Kim Khánh có nhận xét: “Thành công đó, nghịch lý thay, lại phần lớn là do những nỗ lực của người Pháp và Hoa Kỳ muốn dập tắt phong trào cộng sản ở Việt Nam.” [1]. Nhận xét này có thể làm nhiều người, nhất là người nước ngoài, ngạc nhiên nhưng chắc chắn đây không phải là phát hiện mới mẻ đối với bản thân ĐCSVN.

Nhìn lại quá trình phát triển của ĐCSVN cho đến nay có thể nói ĐCSVN là tổ chức chính trị đã thao túng hoàn toàn ngọn cờ chống ngoại xâm cho mục đích đoạt được quyền lãnh đạo độc tôn. Chúng ta thử cùng nhau xem lại một số sự kiện và văn kiện của Đảng hay do Đảng chỉ đạo để thấy được sự “thao túng” đó đã diễn ra như thế nào.

Trong Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ được công bố rộng rãi vào tháng 10/1941, Mặt trận Việt Minh đã kêu gọi: “… Hỡi tất thảy các từng lớp đồng bào, hãy mau mau đoàn kết thống nhất chung quanh bản chương trình trên đây để đánh Pháp đuổi Nhật giành lại quyền độc lập cho nước Việt Nam…” [2].

Trong Thư kêu gọi Tổng Khởi nghĩa vào tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh đã viết: “Hỡi đồng bào yêu quí! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên.” [3].

Nhưng khi thấy việc để cho quân xâm lược Pháp quay trở lại Việt Nam sẽ có lợi cho việc duy trì quyền lực độc tôn, trong đó có việc dễ dàng loại bỏ được các đảng phái đối lập, ĐCSVN đã nhất quyết ký một Tạm ước với Pháp vào ngày 06/03/1946 bất chấp sự phản đối hay nghi ngại của nhiều người. Và để làm các đảng viên hiểu rõ về mục đích của bản Tạm ước đó, ngày 03/03/1946 ĐCSVN đã ra một chỉ thị nội bộ như sau: “Bên trong về chính trị, hồi tháng 8 năm ngoái, dân tộc ta thống nhất hơn, các chính đảng đối lập không có hoặc có mà không dám công nhiên phản đối. Bây giờ bọn đối lập Việt Nam Quốc dân Đảng, đệ tam sư đoàn Việt gian thân Pháp dựa vào sức ngoài hoạt động chia rẽ. Hồi tháng 8 ta lợi dụng được sự mâu thuẫn chia rẽ giữa Tàu và Pháp. Bây giờ mâu thuẫn ấy đã tạm hòa hoãn… Chủ trương “đánh đến cùng” lúc này không những làm cho ta cô lập và thực lực tiêu hao, lại vô tình sửa soạn cho bọn Nguyễn Hải Thần nhảy lên địa vị “chuyên quyền”…” [4].

Nhưng sau khi các đảng phái đối lập đã bị ĐCSVN tiêu diệt hoặc bị truy đuổi ra nước ngoài gần hết và khi chỉ còn đối mặt với sự uy hiếp của Pháp thì ĐCSVN lại kêu gọi:

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!… Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.” [5].

Bản Hiến pháp năm 1946, được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946, với lời nói đầu có những câu như thế này: “… Sau hơn tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới…” [6]. Đặc biệt, trong 70 điều của bản Hiến pháp này không có một từ nào nhắc đến hay nói gì về vai trò, công lao của bất kỳ một cá nhân, đảng phái hay tổ chức chính trị nào.

Nhưng sau khi đã giành được toàn quyền trên miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra và trở thành một thành viên trong Khối Xã hội Chủ nghĩa, ĐCSVN đã thay bản Hiến pháp năm 1946 bằng một Hiến pháp mới (1959) với những lời mở đầu như sau: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Cuộc đấu tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống ách thống trị của đế quốc và phong kiến đã giành được thắng lợi vĩ đại… Nhưng đế quốc Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức lại gây chiến tranh xâm lược hòng cướp nước ta và bắt nhân dân ta làm nô lệ một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, toàn thể nhân dân ta đoàn kết một lòng đứng lên đánh giặc cứu nước… Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà.” [7].

Trên cơ sở tâm lý dân tộc rất nhạy cảm, dễ thành kiến với sự hiện diện của binh lính nước ngoài, tháng 9 năm 1960 trong Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III, ĐCSVN đã ra một nghị quyết phát động một cuộc chiến chống ngoại xâm mới – bao hàm cả quyết tâm lật đổ một nhà nước khác của người Việt (một chế độ chính trị đồng minh với Mỹ và đối lập với ĐCSVN) tại miền Nam, nghị quyết đó có đoạn: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.” [8].

Công cuộc “giải phóng miền Nam” đó còn nhằm một mục đích lớn hơn nữa, như Hồ Chí Minh đã xác định: “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới… Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á, ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.” [9].

ĐCSVN đã thực hiện thắng lợi công cuộc “giải phóng miền Nam” vào ngày 30/04/1975. Và đây là cảm nghĩ của một người miền Nam [10] đã hết sức ủng cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đó, trong những ngày ngay sau “giải phóng”: “Tôi bắt đầu cảm thấy sự tuyệt vọng ứ lên, cảm giác còn kinh khủng hơn cả lúc tôi mới phát hiện ra tính hai mặt của Đảng trong quan hệ với chúng tôi trong bao năm trời trước đó. Bây giờ tôi thực sự mới biết được một cách cụ thể Đảng kiểm soát miền Nam như thế nào… Chỉ trong một năm đầu sau ngày giải phóng, có khoảng 300.000 người bị bắt đi, con số này chỉ tính đối với những người là sĩ quan, viên chức chính quyền hay lãnh đạo đảng phái…“Ít nhất dưới chế độ ông Diệm, ông Thiệu, bọn ăn cắp ăn trộm vẫn còn liêm sỉ. Còn người của Đảng bây giờ chả từ cái gì mà họ nhìn thấy.”, “Phải chăng đuổi người Mỹ đi là sáng suốt? Bây giờ chúng ta lại ở trong sự o ép của người Nga. Ít nhất khi người Mỹ ở đây chúng ta còn có cái mà ăn. Bây giờ có gì? Tình đoàn kết quốc tế ư?”” [11].

Năm 1980, khi vừa xảy ra xung đột đẫm máu giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ĐCSVN đã cho làm lại hiến pháp với những câu đầu tiên đã được sửa lại như thế này: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đi con đường của Cách mạng tháng Mười Nga, nhân dân ta đã lần lượt chiến thắng bọn đế quốc Nhật, Pháp, Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân… nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Campuchia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Campuchia ở biên giới Tây-Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.” [12]

Tuy nhiên, sau cuộc gặp Thành Đô năm 1991, lời nói đầu của Hiến pháp 1992 (và bản sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã không còn một từ nào nói hay ám chỉ đến “bọn bá quyền Trung Quốc” nữa, nhưng Đảng vẫn không quên nhấn mạnh: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện… nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự giúp đỡ quí báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân.” [13]

Có thể nói từ cuộc gặp Thành Đô trở đi Đảng đã dành cho “bọn bá quyền Trung Quốc” một đối xử hết sức nhân văn và cao thượng, không chỉ hoàn toàn “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”mà còn kỳ công tẩy xóa cả những dấu tích liên quan tớithắng lợi oanh liệt chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc”. Nhưng đó không phải là cách ứng xử mà Đảng dành cho những người Việt không cùng quan điểm hay cho kẻ thù cũ của Đảng hoặc cho lực lượng xâm lược đến từ phương Tây.

Trong bản Cương lĩnh và Điều lệ của ĐCSVN vừa được thông qua tại Đại hội XI tháng Một năm 2011, ngay từ dòng đầu tiên đã có những câu khẳng định lại công lao của Đảng trong công cuộc chống ngoại xâm: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài… đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến… giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.“ [14] Và Đảng cũng không quên nhắc đến việc phải “chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch” [15]. Nhưng chắc chắn các chữ “ngoại xâm” hay “thù địch” mà Đảng nêu trong hai văn kiện có tính nền tảng đó không thể bao gồm chính quyền cộng sản Trung Quốc – người “bạn vàng bốn tốt” của Đảng và cũng là chính quyền đang liên tục có những hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam – vì bản cương lĩnh mới mẻ đó đã dứt khoát khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản.” [16]

Như vậy, kể từ Hội nghị Trung ương 08 vào tháng Năm 1941 tại hang Pắc Bó với việc quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp, thâu tóm các lực lượng trong nhân dân, Đảng (lúc đó còn mang tên là ĐCS Đông Dương) đã luôn giương cao ngọn cờ chống ngoại xâm và từ đó tới nay Đảng không chỉ chưa bao giờ quên ngọn cờ đó mà còn luôn gắn chặt sự nghiệp chống ngoại xâm lẫy lừng của dân tộc vào vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng. Không những thế Đảng còn tiến thêm một bước nữa là tự giành lấy quyền xác định, điều chỉnh cho quốc gia nào trên thế giới là “ngoại xâm”, là “kẻ thù không đội trời chung” hay là “bạn vàng” của toàn dân tộc bất kể chính quyền hay quốc gia đó là thân thiện, hữu ích hay thù địch, bất lợi cho sự tồn vong của dân tộc, sự toàn vẹn của chủ quyền đất nước.

Sự độc tôn quyền lực vĩnh viễn

Quá trình phát triển của ĐCSVN suốt từ năm 1941 tới nay cũng cho thấy, về đối ngoại, Đảng đã có một sách lược khá uyển chuyển, linh hoạt, kể cả phải nhượng bộ, thay thù thành bạn hay đổi bạn thành thù với các chính phủ hay lực lượng nước ngoài, nhưng chưa bao giờ thấy Đảng có biểu hiện nghĩ đến hay dao động trong việc hợp tác, chia sẻ với người Việt có chính kiến khác Đảng trong việc lãnh đạo đất nước kể từ khi Đảng nắm được hoàn toàn quyền lực [17]. Chúng ta cùng điểm qua vài sự kiện và một số dữ liệu:

Suốt quãng thời gian từ năm 1944 đến khoảng thời gian sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II, khi tiếp xúc với các lực lượng Đồng Minh (Mỹ, Anh, Nga, Trung Hoa Dân quốc) người của Mặt trận Việt Minh (tức ĐCSVN) luôn thuyết phục các đối tác quốc tế công nhận Việt Minh là tổ chức chính trị duy nhất đại diện cho người Việt Nam [18] bất chấp sự tồn tại của nhiều đảng phái chính trị và các nhóm chống Pháp, kháng Nhật khác của người Việt Nam lúc đó [19].

Ngày 07/10/1945, khoảng một tháng sau khi tuyên bố thành lập chính phủ lâm thời, báo Cờ Giải Phóng (một cơ quan ngôn luận của ĐCSVN lúc đó) số 23, đã có bài viết với nhan đề “Phải triệt ngay bọn Tơ-Rốt-Skít”. Sau khi đả phá và kết tội bằng những ngôn từ chủ quan, hằn học, Cờ Giải Phóng kết luận: “Muốn tránh cho cách mạng những thất bại đáng tiếc, đồng bào ta không thể không kiên quyết tẩy trừ bọn tơ-rốt-skít.” [20]. Và không lâu sau đó ông Tạ Thu Thâu, thủ lĩnh của phái “Tơ-Rốt-Skít” Việt Nam (Đệ Tứ Cộng sản, một nhánh khác của những người theo chủ nghĩa cộng sản nhưng khác với Việt Minh), đã bị chết một cách bí ẩn – trùng hợp với những gì mà Hồ Chí Minh đã dằn mạnh sau đó: “Tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt.” [21]

Không chỉ quyết giành và giữ bằng được quyền lãnh đạo độc tôn, ĐCSVN còn tự xác định phải trở thành một tổ chức thống soái – đứng trên, bao trùm và chi phối mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.

Trong một tài liệu với đầu đề Vấn đề Đảng viết vào khoảng năm 1941, ĐCSVN đã xác quyết rất rõ: “Đảng là hình thức tổ chức cao hơn hết. a. Sự khác nhau giữa tổ chức đảng và hội quần chúng: Đảng là trung tâm điểm chỉ huy, hội quần chúng là những dây chuyền.” [22]

Chính Hồ Chí Minh- lãnh tụ của ĐCSVN – cũng nói đến tính chất tối cao của Đảng như thế, nhưng bằng những ngôn từ dung dị, cụ thể hơn: “Đảng phải lãnh đạo tất cả các tổ chức khác của nhân dân lao động.” [23]

Về mối quan hệ giữa Đảng và cá nhân hay các tổ chức, thiết chế khác trong xã hội, Hồ Chí Minh cũng đã dặn dò các đảng viên của mình như thế này: “… Nếu gặp khi lợi ích chung của Ðảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Ðảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Ðảng.” [24] Và Hồ Chí Minh khái quát: “Muôn việc lấy Đảng làm gốc, Đảng là gia đình của người cộng sản.” [25]

Về nhiệm kỳ lãnh đạo đối với xã hội, đất nước, ngay từ năm 1941 ĐCSVN đã thẳng thắn như thế này:

Đảng là kẻ lãnh đạo vô sản kiến thiết đi đến cộng sản chủ nghĩa đến lúc hết giai cấp, hết chính phủ thì đảng mới hết trách nhiệm.” [26]

Ý chí thống soái xã hội, cũng như độc tôn quyền lực mãi mãi này của ĐCSVN thực ra chỉ là sự tuân thủ, kế thừa đúng tính chất Lenin trong cái gọi là chủ nghĩa Marx-Lenin – chủ nghĩa mà ĐCSVN từ trước đến tận ngày nay vẫn lấy làm “nền tảng tư tưởng”. Theo Samuel P. Huntington [27], học thuyết của Lenin (Leninism) nhằm “tạo ra một tổ chức của những người cách mạng để lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản. Sự trung thành của các thành viên trong những lực lượng cách mạng tương lai đó phải vượt qua hết thảy mọi lợi ích trước mắt của các lực lượng xã hội đó… Vì vậy tổ chức chính trị – đảng – đã tự trở thành chí thiện và cứu cánh cho chính nó, nó cần phải vượt lên hết tất cả những lương tâm, mong muốn của từng thủ lĩnh, thành viên hay thành phần của xã hội. Đối với Lenin, sự trung thành tối cao không phải thuộc về gia đình, dòng tộc, bộ lạc, quốc gia hay thậm chí cũng không phải là giai cấp: mà là thuộc về đảng.” [28]

Như vậy trên cả ba phương diện triết lý (lý luận) chính trị của Đảng, tư tưởng chính trị của lãnh tụ sáng lập và thực tế cầm quyền, kể từ khi nắm được quyền lãnh đạo đất nước (trên một nửa hay toàn đất nước Việt Nam) đến nay, ĐCSVN luôn chủ xướng và tìm mọi cách để duy trì sự độc tôn về quyền lực và tính chất thống soái của mình và dùng mọi cách để ngăn cản, triệt phá các lực lượng chính trị có quan điểm đối lập hay chỉ đơn giản là các cá nhân, tổ chức có thể ảnh hưởng đến hai tính chất độc tôn và thống soái đó.

Dĩ nhiên, tính chủ nghĩa hay tính lý tưởng của học thuyết Marx- Lenin làm sao có thể sống sót được ở những con người chỉ thích ngồi Mercedes hay chỉ dứt khoát gửi con cháu đi du học ở Mỹ, ở Tây Âu nhưng cái lõi quyền lực chính trị độc tôn và những phương pháp để duy trì sự độc tôn đó vẫn tỏ rõ là cái “dĩ bất biến ứng vạn biến” đối với ĐCSVN.

Ngày nay không còn ai nghe hay nhìn thấy những khẩu hiệu như “Vô sản các nước liên hiệp lại” hay “Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch muôn năm” nhưng nếu Lenin sống lại chắc sẽ phải sửng sốt khi nhìn thấy loại khẩu hiệu như thế này: “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng còn mình”. Tính chất tối cao của Đảng, như Lenin dạy, chẳng những không bị xa rời mà còn trở thành sự hăm dọa, cột chặt cuộc đời của đảng viên vào Đảng.

Có thể bối cảnh thế giới hiện tại với những bước tiến lớn của khoa học, công nghệ không còn giúp cho Đảng duy trì tính thống soái dễ dàng như xưa kia nữa nhưng việc Đảng vẫn chẳng từ ai, chẳng từ một thủ đoạn nào, từ tế nhị, thô thiển cho đến hoang dã, chỉ để phá tan những khát khao tập hợp của người dân và cũng mới chỉ là những tập hợp còn rất gần với Đảng hoặc còn tin Đảng chứ chưa phải là những tập hợp có tính đối lập, là những điều cho thấy cái quán tính thống soái một cách man khai của Đảng vẫn còn vô cùng nặng. Còn những quan điểm được Đảng đã phát ra rõ ràng và liên tục như “bỏ Điều 4 là tự sát”, “kiên quyết không để hình thành các tổ chức đối lập” hay “lực lượng công an là thanh kiếm và lá chắn bảo vệ chế độ” thì chắc chắn người mơ mộng hay thích đùa nhất cũng phải hiểu đó là những cảnh báo rất nghiêm túc rằng Đảng đến nay (ít nhất là thế) không chấp nhận bất kỳ thách thức hay chia sẻ, cộng tác nào đối với quyền lực độc tôn của mình.

Trên tấm thảm đỏ độc tôn và thống soái đó, không biết đã có bàn chân nào nhích ra ngoài hoặc nhấc nhẹ lên chưa, nhưng vẫn luôn thấy đủ tất cả các bàn chân, lớn bé, dài ngắn, guốc giầy, Nam Bắc, thân hữu hay đối nghịch, của cái trung tâm quyền lực lớn nhất của ĐCSVN – Bộ Chính trị.

Sự kiên định, đồng thuận trên cái lõi độc tôn và thống soái đó đồng nghĩa với việc Đảng sẽ còn chưa chịu chia sẻ “ngọn cờ chống ngoại xâm”– bảo bối cho quyền lực độc tôn của Đảng. Do đó việc Đảng đã thể hiện dứt khoát không dung thứ, tán thành những hành động yêu nước, chống ngoại xâm ngoài sự kiểm soát của Đảng là một logic. Quyết tâm đó, ý chí đó sẽ còn tiếp tục chừng nào Đảng vẫn chưa thừa nhận nền chính trị văn minh nhất, thanh thản nhất và được tôn trọng nhất là nền chính trị hợp tác với những người có quan điểm khác biệt.
Thực tế còn cho thấy quyết tâm đó của Đảng, không chỉ chưa thấy sa sút hay mệt mỏi, mà còn khá táo bạo và tinh vi hơn. Chúng ta hãy cùng nhau xem ba thông tin nhỏ dưới đây:

(1) Đảng đang chuẩn bị đưa vấn đề chủ quyền biển đảo vào trong các trường học:

Đó là kiến nghị đáng chú ý của cử tri Long An được tổng hợp qua 21 cuộc tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu QH Long An gửi tới kỳ họp thứ 3 QH khóa XIII (dự kiến khai mạc vào 21-5 tới). Cụ thể, liên quan đến diễn biến tình hình giải quyết tranh chấp trên biển Đông giữa Việt Nam – Trung Quốc, cử tri đề nghị Nhà nước cần công khai cho nhân dân biết về chính sách, đường lối chủ trương trong giải quyết vấn đề biển Đông. Ngành giáo dục nên nghiên cứu đưa chủ quyền về Hoàng Sa – Trường Sa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia của thế hệ trẻ… (Pháp luật TPHCM, 10.5.2012)

(2) Báo Đại Đoàn kết – cơ quan ngôn luận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đưa tin một cách trân trọng về chuyến thăm Trường Sa do Chính phủ tổ chức, lần đầu tiên có Việt kiều, trong đó nhiều người là cựu lính “ngụy” hay người của chế độ “ngụy” (như Đảng vẫn gọi trên các phương tiện truyền thông của nhà nước trong dịp lễ 30/04 vừa qua):

Có những người con đất Việt vì nhiều lý do khác nhau, đã sống xa quê hương hơn 36 năm qua. Ngày trở về của họ, thật bất ngờ lại diễn ra trong một không gian, thời gian đặc biệt: tại quần đảo Trường Sa. Nơi đây hằn sâu ký ức của biết bao thế hệ tổ tiên người Việt trong việc gìn giữ, xây dựng và khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc. (Đại Đoàn kết, 08.5.2012)

(3) Và đây là xúc cảm của mộtnhà báo Việt kiều Mỹ trong chuyến đi đó:

Với Phó Nhòm Bolsa thì món cháo thật tuyệt vời. Vừa ăn cháo, vừa ngắm biển, ngắm sao và vừa thương nhớ những người đã hi sinh và hãnh diện với quê hương trời mây, đất biển bao la bát ngát. Vâng tôi ngồi đây bình an giữa trời bêỉn mênh mông chính là những người đã “biết chết” để hi sinh bảo vệ quê hương và biển đảo. Gương hi sinh đầy kiêu hãnh và anh hùng vậy mà đã bị những người hải ngoại (một số nhỏ) cố tình xuyên tạc và im lặng không hề nhắc đến khi kết tội nhà nước Việt Nam đã bán đất bán biển. Đất nước tôi kia, biển đảo tôi kia vẫn còn đó ghi chiến công cuả những người đã hi sinh bảo vệ sao các anh nỡ lòng nào cố tình xuyên tạc sự thật chỉ vì lòng ích kỷ nhỏ nhen vì hận thù chủ nghiã? Phó nhòm Bolsa mong rằng những người hải ngoại vẫn còn tị hiềm xuyên tạc, hãy cho mình một chút ít can đảm nên về một lần ra thăm Trường Sa cho biết. Nước còn đó sao gọi là mất, nhà còn kia sao gọi là tan? Nước chưa mất nhà chưa tan, sao các anh chị không về gom góp một bàn tay xây dựng cho thế hệ mai sau? (KBC Hải ngoại, 19.5.2012)

Trong khi đó những người Việt khác như bà … vẫn chưa biết ngày nào sẽ được rời khỏi nhà tù để về nhà chấp hành “quản chế tại nơi cư trú” hoặc, đơn giản hơn nữa, chỉ mỗi việc xuống đường để thể hiện lòng yêu nước, bày tỏ sự bức xúc, phản kháng một cách ôn hòa trước sự xâm phạm của Trung Quốc vẫn còn là một việc đầy hồi hộp, lo âu cho sự an nguy và bình yên của cá nhân và gia đình.

Nay anh không về, đừng lo nhé nghe em
Hãy cứ coi như anh đi làm trả nợ
Nợ của Vua Hùng, nợ từ tiên tổ
Cho chúng mình non nước Việt hôm nay.
Có gì đâu, anh đi vắng một ngày
Hay thêm nữa, làm sao mà sợ hãi
Anh tắm gội, cạo râu, thay quần áo mới
Nhỡ có bề gì, đỡ vất vả cho em.
Tiền đừng lo, còn đồng đội thân quen
Anh ở nơi đâu, bạn cũng tìm ra được
Có kết tội, tội anh là yêu nước
Chẳng bạo tàn nào ngăn cản được em ơi.
Đừng cho anh nói gở, ngắt ngang lời
Thời buổi nhiễu nhương, điều gì mà không thể
Anh “về muộn” mấy lần, dẫu em lo đến thế
Thêm một lần thì cũng có sao đâu.
Cả một thời tuổi trẻ đã qua mau
Lo trấn ải, quên rằng mình bạc tóc
Giờ lại lũ giặc quen từ phương Bắc
Hãy để anh đi, còn chút sức cuối cùng.
01/7/2012
Nguyễn Tường Thụy

Đó chỉ là tự sự của một người Việt Nam chuẩn bị rời nhà để đi biểu tình chống sự ngang ngược của Trung Quốc vào lúc 08:00 ngày 01/07/2012 ngay tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội vừa rồi. Còn đây là lời động viên của một người khác trước giờ “G” đó:

Ngày mai sẽ có các nhân sỹ trí thức Hà Nội tham gia rất đông… Kính đề nghị bà con và nhất là các bạn trẻ hãy áp sát để bảo vệ các bác trí thức lớn tuổi…

Khi tập hợp lực lượng, đề nghị mọi người chưa tung biểu ngữ ra ngay, chưa hô to gì cả… hay đi vòng vòng quan sát liên tục… công an sẽ không thể bắt mọi người nếu không hô và chăng cờ… chỉ đến khi tạp hợp thành một đoàn người thật đông cỡ 200-300 người… lúc đó mới đồng loạt chiến…

Nếu công an xông vào bắt một ai đó…. hãy dùng số lượng lớn xúm vào cứu… cứu người là cứu mình…

Hãy dũng cảm lên bà con!

Hai động thái tiến bộ

Như vậy, cả về lý luận, truyền thống, lẫn thực tế hiện thời, ĐCSVN vẫn coi lòng yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân chỉ là một công cụ cho quyền lực độc tôn của Đảng và Đảng vẫn đang cố hết sức cho mục đích đó bằng nhiều thủ thuật, thủ đoạn khác nhau. Nhưng công bằng, chúng ta phải thừa nhận trong cái tinh thần “thủ đoạn” đó, ĐCSVN đã có hai động thái tiến bộ trong thời gian vừa qua.
Thứ nhất, ĐCSVN vừa tạo ra một văn bản chính thức, công khai khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa: Luật Biển. Thứ hai, các quan hệ với Mỹ đang có chiều hướng ngày càng được mở rộng và chặt chẽ thêm.
Về Luật Biển: Trong một chế độ độc tài, như Montesquieu đã nhận xét cách đây gần 300 năm hoặc như thực tế Việt Nam đã chứng tỏ, mọi tuyên bố thành văn hay không thành văn của kẻ cầm quyền đều rất ít có giá trị để cho ta tin cậy. Hơn nữa, dù ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Luật Biển như thế nào cũng không thể so được với ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Hiến pháp (luật mẹ của các luật khác) – những điều mà cho đến nay ĐCSVN vẫn luôn bất chấp. Nhưng Luật Biển ít nhất cũng thể hiện ý chí nói chung của ĐCSVN đã có một thay đổi theo chiều hướng tự tin hơn (hoặc ít hèn yếu hơn) trong quan hệ với Trung Quốc. Khi sự tự trọng được nhen nhóm lại hoặc được coi trọng hơn thì bất kể con người đó là ai và trước đó như thế nào đều là biến đổi tích cực cho chính bản thân cá nhân đó và cho tất cả các mối quan hệ liên đới khác – bạn hữu, ruột thịt hay giữa kẻ thống trị và người bị trị. Quan hệ với một người còn ít nhiều sự tự trọng luôn là điều đỡ bất trắc và dễ chịu hơn nhiều so với những kẻ đã vứt hết hay không để ý gì đến hai chữ tự trọng. Dĩ nhiên sự tích cực đó vẫn còn hoàn toàn nằm trong màn đêm đầy toan tính của hai chữ “thủ đoạn” chừng nào ĐCSVN còn coi lòng yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân chỉ là một công cụ cho sự độc tôn quyền lực của mình.

Về quan hệ với Mỹ: Nhìn lại lịch sử ngoại giao của ĐCSVN, có thể thấy ĐCSVN có truyền thống không được các đối tác quốc tế tin cậy, kể cả “anh cả” hay người bạn “răng môi” trong phe Xã hội Chủ nghĩa cũ cũng chỉ coi Việt Nam (đúng hơn là ĐCSVN) như một con cờ để sử dụng chứ không phải là đối tác được tôn trọng [29]. Hơn nữa việc tìm kiếm một sức mạnh từ nước ngoài (Mỹ) trong việc đối phó với những đe dọa từ Trung Quốc nhưng lại coi khinh một sức mạnh nền tảng và luôn vô địch trong mọi cuộc chiến chống xâm lăng là Nhân dân thì sự tìm kiếm đó đã tự bộc lộ chỉ là một thủ đoạn để giữ quyền lực cho riêng ĐCSVN mà thôi. Nhưng dù thế nào thì việc ĐCSVN đã xúc tiến nhiều hoạt động có chiều hướng thắt chặt hơn với Mỹ – một quốc gia không chỉ mạnh về sức mạnh vật chất và quân sự mà, và là điều quan trọng hơn, còn là một nhà nước cộng hòa (hiện đại) đầu tiên, là một trong những nền dân chủ trưởng thành, vững chắc nhất của thế giới, là một chiều hướng tiến bộ. Ít nhất ĐCSVN, và đương nhiên cả xã hội Việt Nam, sẽ có cơ hội gần gũi hơn với nền văn minh dân chủ, cũng đồng nghĩa với việc tránh xa hơn nền văn minh kiểu “ăn thịt người” hay nền chính trị kiểu “Siberie”. Nhưng tất cả những cơ hội tiến bộ (còn nhiều ở dạng tiềm năng) đó có thể sẽ trở nên vô dụng nếu ĐCSVN không dứt được hẳn với truyền thống “hai mặt” trong quan hệ ngoại giao. Dĩ nhiên trong mọi quan hệ, các kỹ thuật giao tế và sự cẩn trọng để tránh bị lợi dụng, hiểu lầm hay coi thường luôn là điều cần thiết, nhất là khi còn ở một vị thế yếu kém hơn hẳn gần như về tất cả mọi mặt. Nhưng sự chân thành là cái tối thiểu cần phải có cho một mối quan hệ đứng đắn. Nhưng, rất đáng tiếc, với những thông tin như kiểu sau đây thì làm sao có thể khiến người khác nghĩ tới được sự chân thành:

Lịch sự kiểu “Huê Kỳ”

Ngay sau khi xác định được đối thủ trong cuộc đua song mã quyết liệt, ông B.Ô-ba-ma đã gọi điện thoại “chúc mừng” ông M.Rôm-ni. Nhưng rồi, lập tức đội ngũ tranh cử của ông Ô-ba-ma bắt đầu công kích mãnh liệt vào các điểm yếu cốt lõi của đối thủ đảng Cộng hòa, như khi là chủ doanh nghiệp đầu tư, ông M.Rôm-ni đã sa thải công nhân một cách không thương tiếc hay còn “khờ khạo” trong lĩnh vực đối ngoại…

Ðáp lại, Ủy ban tranh cử của Ðảng Cộng hòa đang tìm mọi cách tô vẽ hình ảnh một ông Ô-ba-ma không thể điều hành nền kinh tế lớn nhất thế giới, đã phung phí tiền của người đóng thuế và rằng ông Ô-ba-ma là người sinh ra ở nước ngoài, không đáp ứng điều kiện tối thiểu ra tranh cử Tổng thống Mỹ…

Vì một chiếc ghế ông chủ Nhà trắng, hai gương mặt sáng giá nhất nước Mỹ “vạch áo” lẫn nhau, công kích và chê bai nhau. Cử tri Mỹ liệu có suy nghĩ gì về người lãnh đạo cao nhất của đất nước mình trong bốn năm tới(!?) Rõ là lịch sự kiểu “Huê Kỳ”. (Nhân dân, 28.6.2012)

Thiếu sự chân thành, quan hệ, dù phát triển đến đâu, cũng sẽ chỉ quẩn quanh trong tấm lưới âm mưu và lợi dụng. Đương nhiên dư lợi chung cuộc không bao giờ thuộc về người thiếu chân thành và lại ít thông minh hơn – vì lại nghĩ có thể thao túng, lợi dụng được người đã đi trước mình hàng thế kỷ. [30]

Nhưng tính hai mặt, sự thiếu chân thành của ĐCSVN trong quan hệ với Mỹ là điều tất yếu chừng nào ĐCSVN còn chưa chia tay với triết lý chính trị độc tôn, và hệ quả tất yếu, còn sợ các giá trị dân chủ và chống lại các quyền cơ bản của nhân dân mình.

Tinh thần chống ngoại xâm và tinh thần dân chủ

Trong một đất nước mà trường lịch sử hàng ngàn năm gần như chỉ là sự nối tiếp của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hay đối với một dân tộc mà sự tự hào gần như duy nhất có thể làm cho mọi dân tộc khác phải nín lặng, nhưng chưa chắc đã kính nể, là đã “chiến thắng mọi đế quốc hùng mạnh nhất thế giới”, thì sẽ không có gì ngạc nhiên nếu như tinh thần chống ngoại xâm là thứ tình cảm có khả năng lớn nhất trong việc huy động sức mạnh hay sự đoàn kết của toàn dân tộc.

Nhưng nếu như tinh thần chống ngoại xâm trở thành cái duy nhất có thể gắn kết chặt chẽ nhất, có thể huy động được nhiều nhất sức mạnh của một dân tộc thì đó là một điều rất quan ngại. Vì tinh thần chống ngoại xâm luôn là một thứ tinh thần thụ động. Trong một thế giới luôn biến động với vô vàn các yếu tố ngoại lai không thể lường trước và với một đặc tính bất biến là luôn cạnh tranh thì tinh thần chống không thể là tinh thần chủ động hay thuận lợi cho phát triển. Cho dù là cá nhân hay dân tộc thì việc bảo vệ, bảo toàn những chủ quyền của mình trước sự đe dọa hay xâm phạm chủ quyền cũng đều là một trong những việc hệ trọng, cấp bách nhưng nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chống, chỉ nơm nớp lo sợ bị xâm lấn, cướp đoạt hay lúc nào cũng nghi kỵ, sợ hãi sự xâm lấn từ bên ngoài thì cá nhân hay dân tộc đó không thể phát triển được hết tiềm năng của bản thân. Cá nhân hay dân tộc như thế có thể vẫn trường tồn, không bị tiêu diệt, nhưng không thể là một cá nhân hay một dân tộc tự tin. Vậy vấn đề chính không phải là tinh thần chống mà là tinh thần phải làm sao để trong sự tương tác, va chạm với thế giới phong phú, đa dạng với đặc tính bất biến cạnh tranh (chế ước, kiểm soát, kìm hãm thậm chí lấn át, thôn tính lẫn nhau) như thế các yếu tố ngoại lai khó có thể trở thành yếu tố xâm hại hay thù địch với bản thân. Chỉ khi đó cá nhân hay dân tộc đó mới có thể tồn tại một cách tự tin, mạnh mẽ.

Nhìn vào lịch sử của riêng Việt Nam chúng ta cũng thấy mọi cuộc xâm lấn từ phương Bắc hay từ phương Tây đều chỉ là hệ quả của một hoặc hai vấn đề (nguyên nhân) chính: 1. Nội lực quốc gia suy yếu. 2. Chính sách ngoại giao thiếu khôn ngoan. Và chừng nào nếu còn nguy cơ cho một trong hai nguyên nhân này thì trước sau kiểu gì, trong một thế giới cạnh tranh là mãi mãi, cũng sẽ có chiến tranh với nước ngoài hoặc bị nước ngoài xâm lấn, khống chế. Nghĩa là nếu muốn không có ngoại xâm hoặc muốn không phải liên tục chống ngoại xâm thì Việt Nam phải quyết tâm xây dựng được một thể chế chính trị, một xã hội mà mọi trí tuệ của dân chúng phải được khuyến khích, tham khảo, sử dụng cho việc chung, bất kể nguồn gốc, địa vị, sắc tộc hay chính kiến. Cho đến nay, nhân loại mới chỉ tìm thấy một mô hình chính trị đáp ứng được những đòi hỏi đó. Đó là thể chế chính trị dân chủ, hay một cách chuyên môn hơn là thể chế Dân chủ Tự do (liberal democracy). Dĩ nhiên đạt được thể chế chính trị đó không thể là chuyện dễ dàng hay có thể thực hiện trong sớm chiều nhưng đó phải là đích đến của chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể có được hay giành lại được những quyền được nói, được viết, được đi lại, được gặp gỡ, bàn luận, được tổ chức, được cùng nhau chia sẻ đức tin, thổ lộ những khao khát riêng chung, hay bày tỏ những bức xúc của con người một cách tự do. Ít nhất như thế chúng ta mới có thể làm cho sự lên xuống của những người lãnh đạo quốc gia phải chạy theo sự dao động của lá phiếu trong tay ta chứ không phải lá phiếu được nhét vào tay ta cứ phải bám theo họ hoặc chỉ là những mảnh giấy vô giá trị. Dưới ánh sáng văn minh của nhân loại ngày nay chúng ta cần phải đồng thuận thừa nhận rằng giá trị của một tờ báo tư nhân hay một quyền được tự do hội họp cũng không kém giá trị của một hòn đảo, một vùng lãnh thổ của tổ quốc. Chúng ta phải cùng nhau nhận rõ một qui luật đã hiển nhiên là sự trói buộc hay thương yêu của quyền lực độc đoán nội tộc cũng nguy hiểm không kém sự hung hãn hay vỗ về của những kẻ xâm lược ngoại bang. Chỉ khi nhận thức được như thế đất nước mới có thể có một nội lực đủ mạnh làm chùn mọi ý đồ xâm lấn từ ngoại bang và chính quyền mới có thể đủ sáng suốt, đủ tử tế để không phớt lờ hay chống lại ý muốn bảo toàn danh dự, giữ vững chủ quyền của chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới không phải rón rén, lén lút hay lạy lục, van xin, khôn khéo để được yêu nước, để được bày tỏ phẫn uất đối với quân xâm lược.

Với tình hình thời sự hiện nay, khi nhìn vào nhóm các nước [31] đang phải đối mặt trực diện với tham vọng bá quyền của Trung Quốc như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Malaysia, thì chỉ thấy Việt Nam là nước tỏ ra lúng túng nhất, yếu ớt nhất và bị sỉ nhục nhất. Sự khác biệt đó cũng rất tương hợp với mức độ dân chủ của chế độ chính trị ở các nước đó: Việt Nam là nước duy nhất trong nhóm bị xếp hạng là phi dân chủ (độc tài). Ngay Philippines, một nước có nền dân chủ yếu nhất [32] (trong số những nước còn lại), cũng đã tỏ ra chủ động và tự tin hơn rất nhiều Việt Nam trong việc đối phó với những hăm dọa từ Trung Quốc. Như thế, chính chế độ dân chủ đã làm cho các quốc gia nhỏ bé trở nên mạnh mẽ, không bị cô lập trước sự đe dọa của Trung Quốc chứ không phải vị trí địa lý hay truyền thống chống ngoại xâm hào hùng. Một cách ngắn gọn có thể nói rằng Dân chủ không sợ Trung Quốc hay Trung Quốc không thể làm gì được Dân chủ.

Do đó, điều cơ bản muốn bảo toàn được chủ quyền quốc gia một cách chủ động, bền vững, muốn đất nước, dân tộc phát triển, hưng thịnh và luôn đủ khả năng để đối phó, hóa giải một cách chủ động mọi yếu tố xâm hại từ bên ngoài thì cần phải thay đổi triệt để quan niệm, tinh thần từ chống ngoại xâm sang tinh thần xây dựng dân chủ. Đương nhiên trong những tình thế cấp bách, tinh thần chống ngoại xâm phải được đặt lên hàng đầu nhưng xét về lâu dài, và có thể ngay cả những lúc cấp bách, tinh thần dân chủ vẫn phải là tinh thần xuyên suốt và cơ bản nhất. Hơn nữa, tinh thần dân chủ không chỉ giúp cắt rời được những lợi dụng, thao túng của các thế lực cầm quyền dân tộc độc đoán như đã và đang xảy ra mà còn giúp cho tinh thần dân tộc tránh được những cực đoan, giúp dễ dàng cho sự hội nhập, biết tôn trọng, tiếp thu các dị biệt của các cá nhân, các dân tộc khác để cùng sống hòa bình và đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của nhân loại.

Dĩ nhiên, việc chuyển đổi tinh thần cơ bản của dân tộc từ chống ngoại xâm sang xây dựng dân chủ không thể là một quá trình dễ dàng. Sự nan giải đó bởi hai lý do chính. Thứ nhất, tinh thần chống ngoại xâm không chỉ là một truyền thống sâu đậm từ hàng ngàn năm qua mà tinh thần này vẫn được đào luyện, thao túng thêm bởi chế độ chính trị hiện tại. Lý do thứ hai, có thể còn khó khăn hơn lý do thứ nhất, vì tinh thần chống ngoại xâm là thứ tinh thần xuất phát chủ yếu từ tình cảm tự nhiên của con người, còn tinh thần dân chủ lại là thứ tinh thần, ngược lại, gần như hoàn toàn thuộc về lý trí, là thứ tinh thần đòi hỏi phải có sự chủ động, khổ công tìm hiểu, đào luyện về kiến thức và tư duy dân chủ. Nhưng vấn đề chuyển đổi tinh thần đó cũng không phải là việc thay thế hoàn toàn tình cảm chống ngoại xâm bằng lý trí dân chủ mà chỉ là cần phải bổ sung thêm và tạo cho tình cảm yêu nước, chống ngoại xâm một nền tảng lý trí, một sự hiểu biết thấu đáo về dân chủ. Một tình cảm yêu nước hay một tinh thần chống ngoại xâm được tựa vững trên một nền tảng dân chủ, một tinh thần dân chủ. Đó có thể gọi là công thức chung cho tất cả các quốc gia văn minh, tiến bộ và bền vững nhất hiện nay.

Nếu nhìn vào công thức đó, người Việt chúng ta cũng có thể tự hào rằng trong di sản của cha ông để lại cũng đã có một tư tưởng như thế. Đó chính là tư tưởng của Phan Chu Trinh (1872-1926).

Có thể nói trường lịch sử chống ngoại xâm hàng ngàn năm của Việt Nam từ thời lập quốc cho đến tận giữa thế kỷ 20, Việt Nam chỉ duy nhất có một người xem xét công cuộc bảo vệ, giành lại độc lập cho đất nước từ tay ngoại xâm hoàn toàn bằng lăng kính dân chủ. Đó là Phan Chu Trinh. Năm 1925, Phan Châu Trinh đã chỉ ra lý do căn bản của cái lịch sử triền miên mất nước của Việt Nam: ”Một nước bao nhiêu triệu dân mà chỉ giao phó quyền chính cho một ông vua thì chẳng là ngu xuẩn lắm ư? Gặp được ông vua thông minh còn lo chưa hết bổn phận thay, huống là gặp phải anh vua u mê làm ròng những sự độc ác, cấm dân có ăn học không được lo việc nước, thì dân khốn khổ biết bao, và còn có ai dám ra mà gánh vác Một nhà không ai lo chủ trương, một nước không ai lo chủ trương, thì nhà nước ấy làm sao mà không tan không mất được.”[33] Và Phan Chu Trinh đã gợi ra cái điều hệ trọng nhất cần phải thay đổi nếu muốn thoát khỏi tình trạng mất nước triền miên đó: “… Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người ta giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè đầu khốn nạn làm tôi mọi một nhà, một họ nào. Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự lợi ích chung của mình, thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả những quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy còn khốn khổ mọi đường.” [34]

Sinh thời Phan Chu Trinh rất tâm đắc với những suy nghĩ, tư tưởng như thế này:

Quí quốc không phải lo không có ngày độc lập mà chỉ lo quốc dân không đủ tư cách độc lập.”, “Kế hoạch giành lại nước mấu chốt có mấy điều nhưng thực lực trong nước là chủ yếu.”, “Quí quốc chớ lo không có cơ hội độc lập mà chỉ lo không có nhân tài và không chụp được cơ hội.”[35]

Chính vì có tư tưởng như thế mà Phan Chu Trinh đã phản đối quan điểm phải giành ngay độc lập từ người Pháp bằng mọi giá của những người như Phan Bội Châu[36] hay anh thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh sau này)[37] Những biến động lịch sử gần một trăm năm qua tại Việt Nam và thế giới đã cho thấy quan điểm, tư tưởng của Phan Chu Trinh là đúng đắn và hết sức sáng suốt.

Như vậy, dù cho quá trình chuyển hóa tư tưởng, tinh thần cơ bản của dân tộc từ “chống ngoại xâm” sang “xây dựng dân chủ” là một công việc nan giải và lâu dài đến đâu chúng ta cũng phải xác định bắt buộc phải thực hiện. Vì trước sau chúng ta cũng phải thực hiện công cuộc đó nếu chúng ta còn muốn đất nước hưng thịnh, còn muốn lịch sử của dân tộc không phải quay cuồng với nạn ngoại xâm hay chìm đắm trong cảnh nồi da xáo thịt chỉ vì bất đồng chính kiến.

Lạc quan đen

Nếu nhìn sự tồn vong của đất nước Việt Nam hiện nay dưới góc độ quyền con người hay chủ quyền quốc gia thì có thể nói không ai có thể lạc quan, nếu không muốn nói thẳng ra là chúng ta đã mất nước. Có một đất nước nào còn chủ quyền mà chính người dân của đất nước đó lại bị đối xử thấp hơn hẳn so với công dân của một nước khác? Liệu quyền lãnh đạo quốc gia có còn thuộc về người dân của nước đó khi những nơi xung yếu nhất về an ninh quốc gia đều có sự hiện diện âm thầm hay lộ liễu của những kẻ đã tỏ rõ ý đồ muốn thôn tính quốc gia đó? Có một dân tộc nào còn “Nước” không khi người dân phải lén lút bày tỏ lòng yêu nước?

Nhưng nếu nhìn tương lai, tiềm năng của một dân tộc, một quốc gia trong sự chuyển hóa về ý thức dấn thân cho việc chung của người dân, về tính độc lập trong tư duy của xã hội, ở mức độ tuân phục cường quyền hay say mê lãnh tụ, trong khả năng nhận thức được cái tiến bộ/lạc hậu của thời đại hoặc ở nồng độ đối địch với văn minh của giới cầm quyền v.v. thì chúng ta vẫn có thể có cảm giác như thấy những tia sáng lóe lên trong một đường hầm đen đặc của những câu hỏi khắc khoải ở trên.

Tuyệt vọng không phải là điều con người mong muốn nhưng là một trong những cảm giác tự nhiên của con người. Tuyệt vọng cũng không chỉ toàn sự tồi tệ. Sự phi thường vẫn thường vụt ra từ tuyệt vọng. Dĩ nhiên đó phải là loại tuyệt vọng không đầu hàng.

© 2012 pro&contra

Filed under: Dân Luận

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc, 1948

(Được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948)

Lời nói đầu

Với nhận thức rằng:

- Việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới;

- Sự xâm phạm và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành động tàn bạo xúc phạm tới lương tâm của nhân loại, và việc xây dựng một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi sợ hãi và cùng cực được coi là khát vọng cao nhất của loài người,

- Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải nổi dậy như là biện pháp cuối cùng nhằm chống lại chế độ cường quyền và áp bức.

- Cần phải khuyến khích việc phát triển quan hệ bằng hữu giữa các dân tộc,

Nhân dân các nước thành viên Liên Hợp Quốc trong bản Hiến Chương đã một lần nữa khẳng định niềm tin của mình vào những quyền cơ bản của con người, vào nhân phẩm, vào giá trị của mỗi người, vào quyền bình đẳng nam nữ, và đã bày tỏ quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như xây dựng các điều kiện sống tốt hơn, tự do hơn.

Các nước thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hợp Quốc, phấn đấu thúc đẩy mọi người tôn trọng và thực hiện các quyền cũng như những tự do cơ bản của con người.

Sự nhận thức thống nhất về các quyền và tự do của con người kể trên là yếu tố quan trọng nhất để thực hiện đầy đủ cam kết này.

Nay, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố:

Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mội cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản Tuyên ngôn này, và sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế.

Điều 1

Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.

Điều 2

Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác.

Ngoài ra, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó có được độc lập, được đặt dưới chế độ ủy trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế.

Điều 3

Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Điều 4

Không ai phải làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm.

Điều 5

Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6

Mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi.

Điều 7

Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều có quyền được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy.

Điều 8

Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bênh vực theo pháp luật trước những hành vi vi phạm các quyền cơ bản do hiến pháp hay pháp luật quy định.

Điều 9

Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày đi nơi khác một cách độc đoán.

Điều 10

Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện, đều có quyền được một tòa án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.

Điều 11

Mọi người, nếu bị cáo buộc về tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một tòa án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trảng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.

Không ai bị kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bị coi là một tội hình sự theo quy định của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy.

Điều 12

Không ai phải chịu sự can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín của cá nhân người đó, cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp và xâm phạm như vậy.

Điều 13

Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia.

Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình.

Điều 14

Mọi người đều có quyền tìm kiếm và được lánh nạn ở nước khác khi bị ngược đãi.

Quyền này không được áp dụng trong trường hợp đương sự bị truy tố về những tội phạm không mang tính chất chính trị hay vì những hành vi đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 15

Mọi người đều có quyền có quốc tịch của một nước nào đó.

Không ai bị tước quốc tịch hoặc bị khước từ quyền được đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16

Nam và nữ khi đủ tuổi thành niên đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng và khi ly hôn.

Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên.

Gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được nhà nước và xã hội bảo vệ.

Điều 17

Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài sản sở hữu chung với người khác.

Không ai bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền bá, thực hành, thờ phụng hay lễ tiết, với tư cách cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư.

Điều 19

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới.

Điều 20

Mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hiệp hội một cách hoà bình.

Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào.

Điều 21

Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền quản lý đất nước mình, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ được tự do lựa chọn.

Mọi người đều có quyền được tiếp cận các dịch vụ công cộng ở nước mình một cách bình đẳng.

Ý chí của nhân dân phải là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí đó phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, hoặc bằng những thủ tục bầu cử tự do tương tự.

Điều 22

Với tư cách là một thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội cũng như được hưởng các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá không thể thiếu để bảo đảm nhân phẩm và tự do phát triển về nhân cách; thông qua những nỗ lực quốc gia và sự hợp tác quốc tế; phù hợp với hệ thống tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia.

Điều 23

Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.

Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được hỗ trợ thêm từ các hình thức bảo trợ xã hội khác, nếu cần thiết.

Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.

Điều 24

Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và thư giãn, kể cả quyền được giới hạn hợp lý số giờ làm việc và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có hưởng lương.

Điều 25

Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.

Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26

Mọi người đều có quyền được học hành. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng.

Giáo dục phải nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hoà bình.

Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ.

Điều 27

Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.

Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.

Điều 28

Mọi người đều có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế mà trong đó các quyền và tự do cơ bản nêu trong bản Tuyên ngôn này có thể được thực hiện một cách đầy đủ.

Điều 29

Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ.

Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công bằng và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Trong bất cứ trường hợp nào, việc thực hiện các quyền tự do này cũng không được đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 30

Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản Tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hoặc cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hoạt động hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm mục đích phá hoại bất kỳ quyền hoặc tự do nào nêu trong bản Tuyên ngôn này.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Kỳ Duyên – Đại gia và… quan chức

Có hai câu chuyện, ngẫu nhiên không hẹn mà thành “gặp nhau cuối tuần”, nhưng không phải để bạn đọc cười, mà đọc xong, hẳn nó thành “ga la”… khóc.

Đó là chuyện về đại gia và quan chức, hai giai tầng muôn thuở hấp dẫn, từ người đẹp chân dài đến thường dân chân đất.

“Liêu trai chí dị” thời nay

Đại gia được nói ở đây, khiến bạn đọc chú ý vì sự khác người và khác đời. Đang sống sờ sờ, khỏe mạnh, đẹp đẽ ở Hà Nội, ông N. C. Đ. bỏ lên Lương Sơn (Hòa Bình) mua 24 héc ta đất rừng, làm trang trại. Chuyện có thế thì chả đáng nói, vì khối đại gia thời buổi này đều có trang trại cuối tuần.

Đáng nói ở chỗ đại gia này, xây mộ chờ… ướp xác mình.

Mới nghe tưởng như của tiểu thuyết Tàu, vì nó nhang nhác cái lo xa của các bậc đế vương xưa, phòng ngừa khi nằm xuống, bị dân “đào mồ, đào mả”. Ông Đ. cũng chẳng giấu, khi nói xổ toẹt: “Công trình này tốn rất nhiều tỷ đồng. Tôi chỉ là “phó thường dân” nhưng muốn làm 1 khu mộ ngang với mộ… Tào Tháo”.

Nhưng chuyện kể của ông Đ. còn có vẻ hấp dẫn hơn cả tiểu thuyết Tàu, vì nó lại có chút nhang nhác chất “liêu trai chí dị”.

Không biết công trình xây mộ của ông Đ. có đạt trình độ “ngang” với mộ Tào Tháo không, nhưng ông Đ. cũng thuê tới 30 người đục đẽo hơn 3 năm mới xong. Ông còn chuẩn bị đầy đủ cả hương liệu ướp xác sau khi đã đi Trung Quốc, Ai Cập tìm hiểu công nghệ này.

Nay, khu mộ của ông Đ. và vợ đã xây hoàn chỉnh với 2 ngôi cạnh nhau, phía trên có 2 tấm bê tông, ước chừng 6 người khiêng không nổi. Phía dưới hầm mộ có hệ thống xe goòng đưa quan tài vào sâu trong núi…Có kém gì vua chúa trong tiểu thuyết Tàu không?

Nghe chuyện ông, người viết chỉ nhớ đến những khu nghĩa trang của các quốc gia văn minh. Họ xây đồng loạt, giản dị mà không kém tôn nghiêm, theo một quy chuẩn chung. Ở đó, vẫn toát lên một không gian văn hóa, cho dù là “cõi âm”.

20120629132127_1a.jpg
Khu mộ của ông Đ hiện đã xây hoàn chỉnh với 2 ngôi cạnh nhau, phía trên có 2 tấm bê tông lớn. Ảnh: Kienthuc.net

Cũng lại nhớ đến “thành phố Ma” hoành tráng, sơn son thiếp vàng ở Huế mà báo chí tốn bao giấy mực, nhưng dường như vẫn không lay chuyển được nếp nghĩ thủ cựu của những người đang sống ở cố đô.

Thôi thì cũng do ngành văn hóa chưa có những quy chuẩn chung mang tính pháp luật về mồ mả, nên có những đại gia nhiều tiền của muốn “học đòi”, “chơi ngông” hay muốn thể hiện mình theo cách riêng của họ, cũng chả có gì lạ…

Lạ nhất là chuyện này. Là chuyện các quan chức tỉnh Hà Giang, một tỉnh miền núi phía bắc nghèo của Tổ quốc “đua nhau chơi nhà sàn gỗ quý” (phapluatvn.vn, ngày 27/6). Cuộc đua ngấm ngầm này của các vị chẳng ai chịu kém ai.

Các ngôi nhà sàn, hoặc biệt thự đều là của các quan chức cấp huyện, hoặc cấp tỉnh nằm ở thôn Lâm Đồng, xã Phương Thiện (huyện Vị Xuyên), ở tổ 8, phường Quang Trung; hoặc tổ 18, phường Minh Khai (TP Hà Giang), ở xã Vĩnh Phúc (huyện Bắc Quang)… và đều có đặc điểm chung.

20120629132127_1b.jpg
Một căn nhà sàn trị giá nhiều tỷ đồng của một quan chức cấp tỉnh của Hà Giang. Ảnh: phapluatvn.vn

Đó là vừa to vừa rộng, có ao, hồ, non bộ, trị giá nhiều tỷ đồng, được dựng công phu toàn bằng các loại gỗ quý hiếm, trong đó có gỗ nghiến và gỗ trai (loại gỗ quý toát ra mùi thơm lạ, khiến thạch sùng, các loại dán và côn trùng chẳng dám bò vào nhà).

Và đặc điểm chung nữa: Các loại gỗ này có xuất xứ tại các cánh rừng của cao nguyên Hà Giang thuộc nhóm 2A không được phép khai thác.

Các ngôi nhà đều nằm theo thế phong thủy cực kỳ đắc địa. Có ngôi còn theo kiểu “tả thanh long, hữu bạch hổ; tiền chu tước, hậu huyền vũ”, theo triết lý của chủ nhân, “lấy cái cũ để soi vào cái mới” mà ngẫm sự tình.

Hay là để “ngầm” so sánh cái giàu của mình với cái giàu của đồng sự, của hậu sinh mà… nuối tiếc, mà ấm ức? Đương nhiên, đó cũng chỉ là những ngôi nhà nghỉ cuối tuần. Thi thoảng các chủ nhân mới bầu đàn thê tử từ trung tâm TP Hà Giang về nghỉ ngơi, thư giãn.

Có điều rất lạ, gỗ nghiến, gỗ trai là những loại gỗ quý pháp luật Nhà nước nghiêm cấm khai thác. Mà nay, nhà nghỉ, biệt thự của các quan chức cấp huyện, cấp tỉnh ở miền núi Hà Giang cứ thay nhau mọc lên trước mắt người dân Hà Giang còn nghèo khổ. Vậy thì…

Ai trả lời được câu chuyện… “liêu trai chí dị” này không?

Người viết bài chỉ nhớ nhất câu ông Trưởng thôn họ Đàm (thôn Lâm Đồng, xã Phương Thiện, huyện Vị Xuyên) than thở: “Cả thôn Lâm Đồng có 196 nóc nhà sàn của dân cũ kỹ, trong đó có 30% số nhà khi mưa về đã bị dột từ nóc”. Nhà dột từ nóc, thì dân khổ là phải!

Những con đường… “liêu trai”

Xã hội còn chưa hết xôn xao về những nhà sàn, biệt thự toàn bằng gỗ quý của các chức sắc cấp huyện, cấp tỉnh Hà Giang, mới đây, báo chí lại lên tiếng khẩn cấp về hiện tượng Vườn Quốc gia Ba Bể bị phá đến cạn kiệt. Đặc biệt, hàng trăm m3 gỗ nghiến đã bị đốn trộm.

Thì tỉnh miền núi Bắc Kạn mới vội vàng họp khẩn cấp, đề xuất giải pháp… khẩn cấp, ngăn chặn thực trạng này.

Chẳng biết Bắc Kạn sẽ có những giải pháp thần diệu nào. Hay lại… kiểm điểm nghiêm túc, xin lỗi trước dân – cái cách nhận lỗi nhẹ hều- thường nghe thấy trước mỗi vụ việc sai phạm nghiêm trọng lâu nay ở các cơ quan, các ngành của Nhà nước. Chứ sự tổn thương và đau đớn của rừng kéo dài lâu nay rồi, và… ai oán lắm.

Chỉ tính riêng từ cuối năm 2011 đến nay, toàn tỉnh BK có 134 cây gỗ nghiến với khối lượng 536m3 bị chặt hạ. Trong đó, 2 khu vực có diện tích rừng nghiến bị tàn phá nhiều nhất là Vườn QG Ba Bể (48 cây, 160m3 gỗ) và khu rừng xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông (52 cây, 226m3 gỗ) (VietNamNet, ngày 22/6).

Xin lưu ý, đây cũng mới là số liệu mà lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản. Còn số lượng gỗ nghiến bị lâm tặc đốn hạ và vận chuyển về xuôi trót lọt thì… chưa thể biết được.

Thế nhưng nói thực, liệu tỉnh Bắc Kạn, đặc biệt các ngành chức năng có biết được những con đường ngoắt ngoéo khai thác, vận chuyển trái phép hàng trăm m3 gỗ nghiến không?

Khi mà phóng viên VietNamNet ở tận Hà Nội, qua vệt bài điều tra còn chỉ đích danh, thông qua thông tin của người dân tỉnh này, ông trùm đứng sau các vụ phá rừng, thâu tóm toàn bộ đường dây khai thác, đấu thầu, tiêu thụ gỗ nghiến (đã được đấu giá sau tịch thu) là ai.

20120629132127_1c.jpg
La liệt những khúc gỗ nghiến nằm ngay giữa vùng lõi vườn quốc gia Ba Bể. Ảnh: Hoàng Sang/VietNamNet

Còn chỉ ra con đường ngoắt ngéo biến gỗ nghiến khai thác trộm, phi pháp thành gỗ nghiến “có hóa đơn mua bán, có dấu búa kiểm lâm” hợp pháp như thế nào.

Vậy mà tài nhất, trong báo cáo của lực lượng kiểm lâm Bắc Kạn, chưa bao giờ có một biên bản vi phạm nào có tên ông trùm này.

Rõ ràng, con đường ngoằn ngoèo, lắt léo và phi pháp từ khai thác trộm, đến vận chuyển hàng trăm m3 gỗ nghiến quý hiếm ấy không thể trót lọt, nếu không có những con đường tăm tối, tham lam, ma mãnh và ngoắt ngoéo của… lòng người- những con đường “liêu trai” không kém. Ở đây là của các lực lượng, các ngành chức năng.

Chính ông Nông Văn Chí – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn cũng nhận định, để việc gỗ nghiến ở Vườn QG Ba Bể bị đốn hạ và vận chuyển về xuôi, không thể loại trừ trường hợp một vài lực lượng kiểm lâm, tiếp tay cho lâm tặc.

Kinh ngạc nhất, ngay cả khi sự việc đã rõ mười mươi, nhưng cấp quản lý chính quyền tỉnh này cũng vẫn chưa có số liệu cụ thể về diện tích, trữ lượng gỗ nghiến của toàn tỉnh nói chung, Vườn QG Ba Bể nói riêng. Số lượng cây gỗ bị chặt phá có thể nắm được chỉ là dựa vào gốc cây còn… trơ lại. Khối lượng của cây chỉ xác định sơ bộ do sau khi đốn hạ, lâm tặc đã cưa thành các cục thớt để vận chuyển.

Ở góc độ nào đó, có lẽ chính quyền, các ngành chức năng Bắc Kạn phải “cảm ơn” lâm tặc. Nhờ có lâm tặc, mà họ nắm được rõ hơn tài sản của mình đang quản lý.

Đặt hình ảnh các nhà sàn, biệt thự bằng gỗ quý của các quan chức cấp huyện, cấp tỉnh Hà Giang bên cạnh hình ảnh Vườn QG Ba Bể bị phá cạn kiệt, người dân sẽ nghĩ gì nhỉ?

Ai có thể viết tác phẩm “Liêu trai chí dị”- những câu chuyện về …ma quỷ, thời nay không?

Dân ức vì… “khủng”

Mới đây, đọc bài viết trên báo NNVN (ngày 26/6), ai cũng phải sốc nặng: “Rùng mình xã 500 cán bộ ở Thanh Hóa”.

Chuyện rất lạ: Xã Quảng Vinh (huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) có 15 thôn, 2.000 hộ, 9.500 dân. Ngân sách xã mỗi năm chỉ thu được có 400 triệu, nhưng có tới 500 vị cán bộ xã, thôn. Đến mức phóng viên báo này, ngồi với ông Phó Chủ tịch UBND xã gần một tiếng sau mà ông vẫn chưa thống kê hết số lượng cán bộ, đành “áng chừng”.

Quả là một con số ấn tượng về bộ máy hành chính cấp xã!

Đương nhiên, do quan chức xã, thôn đông quá, ngân sách tỉnh lấy đâu để trả lương, nên chính quyền xã bắt dân phải gánh. Người viết tính “bổ đầu” ra theo số lượng, thì cứ 19 người dân nuôi 1 quan chức.

Đúng là thời chiến, dân nuôi quân- “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thời bình dân nuôi…quan!

Khổ nỗi, dân Quảng Vinh đâu có dư dả gì. Số hộ nghèo trong xã còn tới 30,6%. Bình thường, họ đã phải chịu tới 19 khoản phí chính, chưa kể những khoản phí phụ. Con số 19 như con số định mệnh của dân Quảng Vinh!

Mà đội ngũ 500 quan chức xã, thôn nảy nở từ đâu? Từ bộ máy Nhà nước, theo ngành dọc, bổ xuống từ trên xuống dưới. Trên có gì, dưới có nấy. Trên bảo, đố dưới… không nghe đấy?

Đông quan chức quá, thành ra…ít việc. Vì có việc đâu để làm. Ví như 7 đoàn thể: Thanh niên, phụ nữ, phụ lão, cựu chiến binh…, đã có tới 14 cán bộ, nhưng có phải lúc nào cũng có “phong trào” hay “cuộc vận động”? Mà mỗi thôn, 2 người phụ trách bất kỳ đoàn thể nào cũng được hưởng phụ cấp 200 cân thóc/ năm.

Thành thử, so với hiệu quả công việc- ngồi “đuổi ruồi”, thì thật ra thu nhập của các quan chức xã này vẫn rất…cao. Dân thì lúc nào cũng chổng mông ngoài đồng, bán mặt cho đất, bán lưng cho giời. Thế nên, càng dễ ấm ức. Nhất là khi ngày ngày vác cuốc ra đồng, nhìn thấy nhà bác Chủ tịch xã to vật vã.

20120629132137_1d.jpg
Dân nghèo, xã nghèo, nhưng nhà Chủ tịch xã to như biệt phủ. Ảnh: Nongnghiep.vn

Lâu nay, chẳng ai còn lạ về cái sự “vì người, đặt việc” ở nhiều cơ quan, công sở. Người viết bài đã từng được làm việc ở một vụ, mỗi quan chức phụ trách… hơn 1 nhân viên cơ mà (!) Nhưng cái sự “khủng” của bộ máy quan chức ở Quảng Vinh, quả thật quá sức chịu đựng của dân.

Công cuộc cải cách hành chính và tinh giản biên chế triển khai đến nay, có lẽ đã được gần 1 giáp- 12 năm. Vậy nhưng, cứ nhìn vào xã Quảng Vinh, nhìn vào bộ máy “khủng” của xã này, người ta sẽ thấy ngay hiệu quả của cải cách hành chính ra sao?

Đâu phải cứ đến cơ quan công quyền Nhà nước, công sở hoành tráng, sáng choang, người dân mới bị “hành là…chính”. Ngay nông dân Quảng Vinh, chỉ cắm cúi một nắng hai sương trên cánh đồng, chẳng mấy khi đi ra khỏi lũy tre làng, cũng còn bị… hành khốn khổ. Mới hay, cái “chân rết” của bộ máy hành chính (đang phải cải cách) vẫn chả tha ai.

Thanh Hóa vốn là tỉnh mấy năm nay cứ đến kỳ giáp hạt, lại phải kêu cứu TƯ hỗ trợ gạo để nuôi dân.

Nhưng giờ, chắc chắn đến lượt người dân, như xã Quảng Vinh, phải vác rá vay gạo để nuôi cán bộ.

Họ ức là phải.

Còn nhiều người dân trong xã hội, nhìn vào hoàn cảnh “quan giầu, quan nghèo” nói trên, hẳn đều… khóc (theo cách của mình), vì hổ thẹn và ngượng thay!

Kỳ Duyên

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Việt Nguyễn – Con đường Việt Nam, tại sao không?

Có phải tất cả người VN chúng ta, những ai quan tâm tới tương lai của đất nước, đều mong muốn có sự đổi thay hiện tình của đất nước từ thể chế chuyên chính độc quyền, nghèo khó và thiếu dân chủ, sang một thể chế đa nguyên, giàu mạnh và dân chủ. Vì mục đích ấy, rất nhiều người đã lên tiếng, rất nhiều người đã dấn thân, và cũng rất nhiều người bị khủng bố, bắt bớ, tù đày, hành hạ đủ trò đủ kiểu. Nhưng kết quả đạt được chưa đáng là bao, so với những mất mát hy sinh. Cũng chưa có cá nhân, tổ chức nào đủ tài đủ lực xoay chuyển được tình hình, trước sự kìm kẹp, đàn áp tàn bạo của công an, chính quyền cộng sản VN. Từ trước tới nay cũng chưa thể có tổ chức đảng phái nào trong nước công khai hoạt động, phát động phong trào, khuấy động và cố kết được lòng người, khả dĩ làm đối trọng với ĐCSVN, để đòi lấy những quyền tự do dân chủ, quyền làm người đã bị đánh cắp.

Anh Lê Thăng Long thay mặt cho anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Công Định còn ở trong nhà tù CS ra lời kêu gọi phát động phong trào Con Đường Việt Nam (CĐVN). Có thể cá nhân anh LTL đã nhận tội để được ra tù sớm hơn, trong mắt mọi người thế là không đủ bản lĩnh. Thứ nữa anh mới ra tù có mấy ngày, đang bị quản chế, làm sao có đủ điều kiện cho ra lời kêu gọi, sự kiện lớn lao như vậy, một cách dễ dàng. Phía chính quyền CS là bậc thầy của các biện pháp khủng bố, có thừa lực lượng và tàn ác để ngăn chặn đối lập, sao có thể để anh LTL hành động khơi khơi vậy được?

Bấy nhiêu giả thiết cũng đủ cho bất kỳ ai phải đắn đo, nghi kỵ, cho anh là con mồi, là ngây thơ tự làm cạm bẫy. Lúc đầu tôi cũng cho là vậy, nhưng khi nghĩ kỹ lại tôi thấy anh LTL chẳng ngây thơ, mà cũng chẳng tự làm cạm bẫy cho mình. Mà anh LTL chơi bài ngửa, chơi công khai. Mọi tài liệu về lời kêu gọi, mục đích, cương lĩnh hành động, lời mời tham gia, đều được đưa lên mạng công khai minh bạch.

Trả lời BBC, anh LTL nói nhận tội để ra tù sớm hơn. Còn phong trào CĐVN đã được các anh bàn bạc thống nhất từ trước. Hai người đứng tên cùng anh THDT và LCĐ còn ở trong tù, anh cũng xác định nếu bị bắt lại vào tù thì những người khác sẽ thay thế mà củng cố phong trào (PT). Anh chỉ ở vị trí này cho đến khi kiện toàn được lãnh đạo PT, tất cả đều công khai minh bạch. khẳng định PT là của tất cả mọi người, các anh chỉ là người khởi xướng.

Cốt lõi của PT CĐVN, qua các tài liệu đã được công bố rộng rãi là các điểm chính sau:

- Tiếp nối con đường duy tân, KHAI DÂN TRÍ, CHẤN DÂN KHÍ, HẬU DÂN SINH. có nghĩa là HIỂU BIẾT, ĐỂ TỰ TIN, LÀM GIẦU CUỘC SỐNG.

- Bằng con đường Việt Nam, mục tiêu tối thượng phải hoàn thành là quyền con người phải được bảo vệ trên hết và bình đẳng ở đất nước chúng ta.

- Lấy dân làm gốc để xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện phát triển kinh tế xã hội đến phồn vinh, thịnh vượng.

- Không chủ trương bạo động,thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc, trong sự tôn trọng yêu thương, lẫn nhau, không tôn sùng chủ thuyết, hành động theo mệnh lệnh của nhân dân.

Và để khởi đầu, hãy giúp trả lời câu hỏi: “Làm sao để người dân tự tin sử dụng tất cả quyền con người của mình mà không phải đợi ai cho phép trong hoàn cảnh của đất nước hiện nay?“.

Bản thân nhóm các anh THDT, LCĐ, LTL, đều là các trí thức thành đạt. Họ có thừa khả năng tạo dựng cuộc sống khá giả, nếu chịu im hơi lặng tiếng trước bất công và cường quyền. Họ đã chịu, và đang chịu tù đầy khắc nghiệt để kiên định cho ra đời phong trào CĐVN.

Những mục đích nội dung của phong trào, được nhóm chủ trương nêu ra, giải thích rất rõ ràng dễ hiểu, và thiết thực.

Chỉ đơn giản, “Hiểu biết để tự tin làm giàu cuộc sống”. Làm việc gì ta cũng cần hiểu biết về việc đó, hiểu biết càng nhiều thì ta càng tự tin hơn sẽ làm tốt việc đó, lẽ dĩ nhiên đã biết rõ việc cần làm lại tự tin, chắc chắn kết quả công việc sẽ là tốt nhất. Khi hiểu biết rõ quyền con người, tự tin về những hiểu biết đó, chúng ta sẽ hành xử quyền lợi cho mình tốt nhất mà không sợ hãi vì sự răn đe của chính quyền. Tỷ như quyền biểu tình, được hiến pháp năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam minh định. Khi quốc hội chưa thông qua luật biểu tình, không có nghĩa là công dân không được biểu tình, mà trái lại còn không bị hạn chế bởi luật.

Nếu ai còn chưa tìm hiểu nội dung của phong trào CĐVN, thì hãy tìm đọc các tài liệu của nhóm phát động PT, rồi suy gẩm. Tôi thiết nghĩ chúng ta còn nói đấu tranh cho dân chủ, cho tương lai tốt đẹp ở VN, có thể không tham gia PT, nhưng không thể phủ nhận những mục tiêu tốt đẹp, thiết thực mà PT đang vận động.

Nghi ngờ PT là điều cần thiết cho người có trí tuệ, không tham gia PT là quyền của mọi người, nhưng kết luận vội vả, cảm tính và thiếu căn cứ là không nên. Các nhân sĩ, trí thức bấy lâu được hâm mộ trên các diễn đàn, tiếng nói của họ rất được bạn đọc chú ý và suy nghĩ. Cá nhân tôi cũng rất phân vân khi thấy Tiến sỹ Hà Sỹ Phu kết luận: ”Nhiều ý kiến cho rằng cuộc vận động phi thường vội vã này chỉ là một trong hai khả năng: hoặc là sự ngây thơ chính trị kiểu sách vở, hoặc một cạm bẫy. Hai khả năng ấy cuối cùng cũng chỉ là một, vì đã ngây thơ thì càng chân thành lại càng dễ thành cạm bẫy thôi.

Rồi Bọ Lập trong blog Quê choa, không thèm đọc xem anh LTL viết gì, mời gì đã vội buông lời: “Nay tui tuyên bố: ông Lê Thăng Long hãy bỏ tên tui ra khỏi danh sách của ông ngay! Chớ có bảo ông thích mời ai thì cứ tương tên người ta vào danh sách, đó là cách làm hồ đồ và vô sỉ!”. Tôi nhớ hồi Bọ Lập chửi xéo ông phó chủ tịch Hưng Yên tên Nguyễn Khắc Hào, khi ông này báo cáo với thủ tướng về vụ cưỡng chế đất ở Văn Giang. Rằng ông Hào nói bằng mớ ngôn ngữ té re… kinh lắm. Nay nghe Bọ nói anh LTL “vô sỉ”, thật chẳng sướng tý nào.

Tôi cho rằng, giả sử chính quyền CSVN đứng ra dàn dựng cho anh LTL, ra tù sớm để thay mặt anh THDT và LCĐ, ra lời kêu gọi phát động phong trào CĐVN. Có ba cách.

Một là CSVN, lấy nhóm anh LTL làm cái bẫy, để nắm lại chắc chắn những ai là thế lực thù địch, tôi nói nắm lại bởi vì danh sách được mời tham gia PT CĐVN gồm toàn những vị, không ít thì nhiều đều có tiếng nói phản biện với CSVN. Số này CQCS có thể bắt bất cứ lúc nào bằng những chứng cứ lãng nhách, nếu họ thấy cần bắt.

Hai là chính quyền CSVN, thật tâm muốn tạo ra sự thay đổi theo cách mà ít ai nghĩ tới.

Ba là nhóm anh LTL, quyết tâm thực hiện ý chí của mình, một lòng vì nghĩa cả. Họ đã trả giá cho việc này bằng những bản án tù của chế độ CSVN. Cái giá lớn hơn cả sự tù đày chắc các anh cũng đã sẵn sàng.

Cho dù là cách nào đi nữa, căn cứ vào nội dung, mục đích của PT CĐVN đang hướng tới, cũng đáng cho chúng ta ủng hộ, góp sức cho PT lớn mạnh. Chẵng phải chúng ta vẫn mong ở VN xuất hiện một PT, có người người đứng đầu, đưa ra một cương lĩnh đúng đắn, một cách làm thiết thực, để chung sức chung lòng đưa đất nước VN đến dân chủ ,tự do, ấm no hạnh phúc đó sao! Chính quyền CSVN không chính danh, với học thuyết Mác-Lê phi khoa học, không còn khả năng chèo lái con thuyền VN đến dân chủ và thịnh vượng. Không phải chính quyền CSVN không nắm được những việc nhóm anh LTL đang làm, không phải họ không đủ thủ đoạn và sự tàn bạo để vô hiệu hóa anh LTL. Mà họ đang khó ra tay, vì tất cả đã được đặt lên bàn, công khai từng chi tiết, chẳng lẽ chính quyền CS không muốn dân chúng được hiểu biết để tự tin, không muốn tôn trọng quyền con người và bình đẳng. Muốn dẹp PT chỉ còn cách chơi trò đểu, vu khống rồi dùng cường quyền bắt giam, như từ trước tới giờ đối với các anh Điếu Cày, hay TS Cù Huy Hà Vũ v.v… Cách này bây giờ không thiêng nữa rồi. Hơn nữa còn có quốc tế nữa, thế giới không để cho CSVN mặc sức làm càn, mà không lên tiếng.

Từ lúc nhóm anh LTL chuyển đi lời phát động, và mời tham gia PT CĐVN đến nay, đã có rất nhiều bài viết và comment tham gia tranh luận góp ý cho PT. Đa số những người được mời đã lên tiếng, ít ỏi trong danh sách, là người có nhiều uy tín, đều viện dẫn những lý do và trở ngại để từ chối tham gia hoặc chưa tham gia PT. Có vẻ như là họ bảo vệ uy tín của mình một cách đầy hiểu biết. Một số ít thì mỉa mai, chửi bới, số này chắc là công an mạng. Còn lại đa số ủng hộ PT là những người bấy lâu nay ít lên tiếng, chỉ âm thầm dõi theo PT.

Với cách nghĩ và tinh thần dấn thân cho tự do của người VN ta, như hiện tại, thật khó có thể tạo được những PT lớn lao như mùa xuân Ả rập. Mọi người vẫn cứ trông chờ một biến động nào đó, có thể là ngẫu nhiên mang đến sự thay đổi ở VN. Trông chờ như thế chẳng bao giờ có cả, nếu mỗi người chúng ta không tự nhận lấy trách nhiệm chính trị cá nhân.

Hành xử quyền con người của mình như cách mà PT CĐVN đã phát động. Hãy đừng sợ hãi, và tự tin là mình làm đúng. Nếu chính quyền CS vẫn bất chấp lẽ phải, chà đạp lên chính Hiến pháp của VN, mà tiến hành khủng bố, bắt bớ tù đầy. Thì cũng sẵn sàng chịu đựng, như là chuyện bình thường của người dám dấn thân. Nếu chúng ta chỉ ngồi một nơi, chọn giải pháp an toàn nhất cho mình, không chấp nhận mất mát, không kiên quyết đấu tranh cho ý chí của mình thành hiện thực, thì mãi mãi cũng chỉ là ảo vọng. Chính quyền CS sẽ chẳng bao giờ tự giải thể, cho tự do dân chủ đích thực được chan hòa trên đất nước VN.

Phong trào CĐVN sẽ tạo cơ hội này!

© Việt Nguyễn

© Đàn Chim Việt

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Trương Đình Trung – Cảm nghĩ về buổi nói chuyện của ông Bùi Tín

Tin liên quan:

Người ta đã tổ chức và gọi đó là một cuộc hội thảo; hiểu nôm na là họp nhau lại để trao đổi ý kiến, hay thảo luận về một đề tài. Đề tài được đưa ra là hiện tình Đất Nước, việc giải thể chế độ CS và xây dựng Dân chủ cho Việt Nam. Do một sự thỏa thuận nào đó, Ban Tổ Chức đã mời ông Bùi Tín làm diễn giả chính của buổi thảo luận, và đã đưa ra một vài quy tắc về thời lượng cho phần thuyết trình cũng như phần đặt câu hỏi của cử tọa dành cho diễn giả.

Những gì đã thật sự diễn ra cho thấy rằng dường như không có thảo luận, chẳng có mấy trao đổi đàng hoàng, và cũng chẳng có gì gọi là bàn luận quanh đề tài đặt ra. Chỉ có diễn giả trình bày quan điểm mình, còn cử toạ thì phần đông mượn dịp để bình phẩm và công kích cá nhân diễn giả. Thế thôi!

Trước hết về phía diễn giả, thì những gì ông trình bày về hiện tình Đất Nước, về các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, v.v… là hết sức cô đọng, đến độ sơ sài, không đạt được mức sâu sắc cần thiết cho một cuộc thảo luận. Có thể là vì thời lượng quá ngắn so với đề tài, hoặc vì diễn giả đã không có một trợ cụ nào khi thuyết trình (như Power Point, hay slider, hay projector,…), và có lẽ cũng do tuổi tác của diễn giả nữa, nên phần thuyết trình không đủ bao quát, kém hấp dẫn, và thiếu gợi mở suy tư thắc mắc về một đề tài quan trọng như vậy.

Do tư thế đặc biệt của diễn giả, và do cách mà Ban Tổ Chức đặt đề tài, cử toạ nghiêm túc chắc hẳn sẽ mong đợi ở Ông một sự trình bày sâu sắc hơn về hiện tình nội bộ đảng CSVN, đặc biệt là ở cấp cao nhất, trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư và Uỷ Ban Trung Ương Đảng; về những khuynh hướng khác biệt nếu có, hay phe nhóm chính, trong giới lãnh đạo; về căn bản sâu xa của chính sách đối ngoại của đảng Cộng Sản hiện nay; từ đó dự đoán những tình huống (scenarios) trong tương lai của việc thay đổi – kế thừa lãnh đạo. Có lẽ người ta cũng mong đợi được nghe ở diễn giả về tình hình chung của đảng Cộng Sản, về mức độ gắn bó của đảng viên đối với lý tưởng, đối với chế độ, về phẩm chất đảng viên. Cử toạ có lẽ cũng mong muốn được nghe xem lòng dân trong Nước bây giờ ra sao, thái độ của các tầng lớp dân chúng đối với hiện tình Đất Nước, đối với đồng bào ở hải ngoại; quan trọng nhất là đâu là yếu tố dân tâm mà các nhà hoạt động ở hải ngoại cần nắm bắt để vận động và thuyết phục họ. Người ta cũng cần nghe xem là có thời cơ nào gần nhất cho những chuyển biến chính trị trong tương lai gần hay không; về khả năng tổ chức và huy động quần chúng; về năng lực, uy tín và tầm ảnh hưởng của các nhà đối kháng tên tuổi hiện nay .V.v… và v.v…

Nghĩa là, phần thuyết trình là quá sơ sài so với đề tài đặt ra và so với sự mong đợi của những người tham dự đứng đắn. Dường như Ban Tổ Chức, và có lẽ cả diễn giả, đã đưa ra một nghị trình quá rộng lớn trong một khung cảnh và thời lượng hết sức hạn chế, nói như người Mỹ là “they bite off more than they can chew”; có vẻ như họ hơi tham lam. Hoặc cũng có thể là chủ ý không phải là để tạo ra một cuộc thảo luận đúng nghĩa, mà chẳng qua để tạo ra dịp nhằm thăm dò xem phản ứng của người Việt ở San Jose sẽ đối với nhân vật Bùi Tín như thế nào. Và về phần mình, ông Bùi Tín có lẽ cũng muốn có dịp để phản biện những cáo buộc đã dành cho Ông lâu nay từ phía những người của chiến tuyến mà hơn 20 năm nay Ông đang muốn đứng cùng?

Lâu nay trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản ở Mỹ tỏ lộ hai thái độ trái ngược đối với trường hợp ông Bùi Tín. Một phía thì đón nhận Ông với thái độ ân cần dành cho một người, trước đây có chỗ đứng vững vàng trong hàng ngũ Cộng Sản, nay đã phản tỉnh và quay về với chính nghĩa. Phía này tìm thấy ở ông Bùi Tín một người am hiểu nội tình đảng CSVN, kiến thức quảng bác, có lòng yêu Nước, luôn nặng ưu tư về việc dân chủ hoá Việt Nam. Nhiều nhân sĩ, trí thức ở hải ngoại đã cộng tác với Ông trong công cuộc vận động cho một Việt Nam đa nguyên – đa đảng, xem Ông là một cây bút, một diễn giả quan trọng, đã đóng góp tích cực cho nổ lực giải thể chế độ CSVN bằng đường lối hoà bình.

Phía khác thì ngược lại, không tin rằng ông Bùi Tín đã thật lòng phản tỉnh, trở thành người chống Cộng Sản quyết liệt và kiên định như họ. Phía này hoài nghi rằng ông Bùi Tín hoặc chỉ là kẻ đón gió, trở cờ, hoặc có thể là người được đảng CSVN gài ra hải ngoại, đóng kịch, trà trộn vào hàng ngũ phe quốc gia để hoạt động cho lợi ích của Đảng…Những người thuộc phía này đã từ lâu tung ra nhiều cáo buộc về ông Bùi Tín, tập trung vào quá khứ trước đây của Ông, ngay cả đưa ra những chi tiết liên quan đến công việc thông dịch của thân phụ Ông, trong thời Pháp thuộc, nữa. Nhưng những cáo buộc như vậy, tuy được đưa ra một cách hùng hồn, lại không tỏ ra có đủ chứng cứ khả tin hổ trợ, và ông Bùi Tín đã nhiều lần tỏ ra không ngần ngại để đối chất với những người buộc tội Ông.

Sự chống đối dành cho ông Bùi Tín ít nhiều có những nét tương tự như những chống đối dành cho một số các cựu Cộng Sản phản tỉnh khác, như đối với nhạc sĩ Tô Hải, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, hay ông Vũ Thư Hiên, v.v…Nó tương tự cả về thành phần những người chống đối, lẫn nội dung của sự chống đối. Đa số những người chống đối là những vị có thái độ chống Cộng Sản quyết liệt, là những người hoạt động trong các cộng đồng người Việt với chủ trương duy nhất là chống Cộng đến cùng, bằng mọi phương cách, và không chấp nhận hoà hợp hoà giải. Đặc điểm dễ nhận ra ở những vị này là tỏ ra hết lòng gắn bó với quá khứ của VNCH và với ngọn cờ Vàng. Đặc điểm khác nữa là hoạt động chống Cộng Sản của họ tập trung nhiều vào nỗ lực ngăn chận sự xâm nhập của Cộng Sản vào các cộng đồng tại hải ngoại, hơn là quan tâm đến sự vận động quần chúng ở trong Nước, trong một chiến lược lâu dài và rộng lớn hơn để giải thể chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. Bề ngoài, nội dung của sự chống đối thường quay quanh việc hoài nghi mức độ kiên định về lập trường và, nhất là, năng lực của những người phản tỉnh. Nhưng sâu bên trong, sự chống đối là để nhằm khẳng định rằng chỉ có các cựu viên chức sĩ quan của chế độ VNCH trước đây thôi là có lập trường kiên định nhất, và họ là thành phần duy nhất có đủ năng lực, xứng đáng để lãnh đạo các cộng đồng ở hải ngoại trong công cuộc chống Cộng; những người khác, nhất là những cựu đảng viên Cộng Sản phản tỉnh, dù có tri thức tài năng đến mấy cũng không thể đứng vào vai trò lãnh đạo đó được. Nghĩa là một thứ tâm thức giành độc quyền lãnh đạo chống Cộng Sản ở hải ngoại, mà xét về tính chất, thì cũng không khác bao nhiêu với chủ trương độc quyền lãnh đạo Đất Nước của giới chức cao cấp Cộng Sản ở trong Nước vậy. Cả hai tâm thức độc quyền đó, suy cho cùng, có gốc rễ trong nền văn hoá của Việt Nam ta, một thứ văn hoá luôn gieo cấy óc độc đoán trong mỗi người từ thời thơ ấu!

Gần như song song với cuộc “thảo luận” của ông Bùi Tín, còn có một sự kiện khác, ít được biết đến hơn, là cuộc phỏng vấn của Luật sư Nguyễn Tâm, một nhân sĩ tiếng tăm trong cộng đồng người Việt ở San Jose, California, với ông Bùi Tín. Đó là một cuộc phỏng vấn khá dài với chừng 10 câu hỏi đặt ra, trong đó đa số là xoáy sâu vào quá khứ của ông Tín. Ở đây xét thấy không tiện để đi sâu phân tích cuộc phỏng vấn đó và các câu hỏi được nêu ra, chỉ xin nêu lên đôi cảm nghĩ vụn của người viết đối với cuộc phỏng vấn thôi. (Tham Khảo: LS Nguyễn Tâm phỏng vấn ông Bùi Tín

Ngày xưa trong các cuộc bách hại tôn giáo thường có cảnh người bị bắt đạo buộc phải từ bỏ tôn giáo của mình, bằng những hình thức như là thề bỏ đạo, xé bỏ ảnh tượng, hoặc chà đạp lên những tượng thánh trước kia đã tin thờ, v.v…

Cái cung cách mà Luật sư Nguyễn Tâm hạch hỏi ông Bùi Tín trong cuộc phỏng vấn này, cũng như những chất vấn mà nhiều vị khác đặt ra cho ông Tín trong những ngày qua về quá khứ của Ông, khi ông đến San Jose, không khỏi gợi nhơ đến cảnh bắt BỎ ĐẠO vừa nêu trên.

Ông Bùi Tín đã công khai từ bỏ đảng tịch đảng CSVN, đã lià bỏ gia đình, quê hương để ra đi. Hơn 20 năm qua Ông không những chỉ tuyên bố suông mà còn viết rất nhiều sách, bài báo để vạch trần những sai trái của đảng CSVN và các nhân vật lãnh đạo cao cấp của đảng đó. Ông đã nói và làm những gì thuộc phần việc của ông ta.

Phía những người quốc gia tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại có quyền tin hay không tin ông Tín, và có quyền chấp nhận hay không chấp nhận Ông. Nhưng họ cũng phải làm phần việc của họ; nghĩa là phải tự dùng trí tuệ của mình để xác minh ngôn từ và hành động của ông Tín, hơn là thực hiện việc lấy “khẩu cung” một cách thô bạo theo kiểu “thẩm vấn tù binh” như đang làm. Tốt hơn hết, người Quốc Gia phải tỏ ra rằng mình thật sự đứng về phía chính nghĩa; một chính nghĩa có đủ lòng độ lượng và sự cao thượng để đối xử với đồng bào của mình mà không cần cậy vào hoàn cảnh và số đông để áp đảo, dù bằng ngôn từ, và bức bách một kẻ thân cô thế cô phải chịu cảnh “bắt BỎ ĐẠO” như đang xảy ra.

Luật sư Nguyễn Tâm lấy tư cách gì, nhân danh ai để bắt ông Bùi Tín phải nói lời xin lỗi đối với tất cả các nạn nhân Cộng Sản? Xét cho cùng ông Tín cũng chỉ là viên chức hạng trung của cả một chế độ CS, trách nhiệm của Ông cũng chỉ rất hạn chế, làm sao lại gán lên vai Ông gánh nặng về nỗi đau thương của một số người đông đảo như vậy? Sao Luật sư Tâm không yêu cầu những nhà lãnh đạo VNCH trước đây, những tướng lãnh cao cấp đã từng đào ngũ khi đối diện với quân thù vào phút chót, để trốn chạy ra ngoại quốc, bỏ lại thuộc cấp và đồng bào của mình, xin lỗi? Bởi vì chính những kẻ ấy đã góp phần lớn vào sự mất Nước và, xét ở góc độ nào đó, đã gián tiếp góp phần cho sự chiến thắng của Cộng Sản, gieo nổi đau chung cho hàng triệu người.

Luật sư Nguyễn Tâm lại còn yêu cầu ông Bùi Tín phải có hành động hay lời khuyên cụ thể để giúp chống lại Nghị Quyết 36 của Việt Cộng. Một yêu cầu như vậy, xét về tính chất, cũng chẳng khác nào các băng đảng Mafia bắt thành viên mới gia nhập phải chứng tỏ lòng trung thành bằng cách giết một ai đó. Hoặc như kiểu thời xưa kẻ đầu hàng buộc phải quay lại giết thủ lãnh cũ của mình để tỏ thành tâm đầu hàng! Bởi vì việc chống lại Nghị Quyết đó là trách nhiệm, là nổ lực chung của mọi thành viên trong cộng đồng tị nạn ở Mỹ, trong đó có cả Luật sư Tâm, vậy sao Cộng Đồng không tự lo lấy mà nằng nặc đòi ông Tín phải có sáng kiến hay hành động cụ thể cho công việc ấy? Một yêu cầu như vậy có quá đáng chăng?

Điểm khác nữa là xuyên suốt trong cuộc phỏng vấn, Luật sư Tâm đã xoáy sâu vào quá khứ sống và làm việc cho chế độ Cộng Sản của ông Tín, tìm cách dẫn dắt ông ấy đi đến chỗ nhận tội, tội đối với Tổ Quốc và Nhân dân vì đã đi theo và phục vụ tích cực cho đảng Cộng Sản trước kia! Việc làm đó của Luật sư Tâm không khỏi gợi nhớ lại sự kiện sau năm 1975, bọn Cộng Sản Hà nội đã bắt hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức của VNCH nhốt vào các trại tù, đày ải trong nhiều năm, và ngày đêm thường xuyên thuyết giảng về quá khứ làm “tay sai đế quốc”, “gây nợ máu đối với Nhân dân” của số sĩ quan – viên chức đó, bắt viết đi viết lại kiểm điểm trong nhiều năm, buộc họ cuối cùng phải công khai thú nhận tội lỗi đã phạm.

Rõ ràng chính sách đó của đảng CSVN đối với các viên chức – sĩ quan của chế độ VNCH là phi nhân và đã bị cả thế giới lên án.

Nhưng đó là việc làm của giới lãnh đạo đảng CSVN, một tập đoàn vong bản với chủ thuyết ngoại lai; còn người quốc gia, phiá vẫn tự nhận là có chính nghĩa trong tay, không lẽ, bằng cung cách thẩm vấn, công kích, mạ lị bắt thú tội, bắt “bỏ đạo”, và bắt chứng tỏ lòng trung thành như Luật sư Tâm và nhiều người khác đang làm với ông Bùi Tín trong những ngày qua, cũng tỏ ra không có gì quảng đại và nhân bản hơn bọn CSVN sao? Người ta đã đầu hàng, đã công khai xin “hồi chánh” rồi, mà cũng chưa yên, đến già gần cửa mộ rồi mà còn bị một kẻ hậu sinh, nhân danh người tị nạn Cộng Sản, hoạnh hoẹ. Những người đảng viên Cộng Sản, và đa số dân chúng đến hơn 60% thuộc lớp trẻ ở trong Nước, sẽ rút ra kết luận nào đây khi nhìn cảnh “phe Quốc Gia” đang đối xử với một người đã về “hồi chánh” hơn 20 năm nay như ông Bùi Tín? Liệu họ có tin tưởng được vào sự bao dung và tình tự Dân tộc của người Quốc Gia ở hải ngoại?

Trở lại cuộc thảo luận của ông Bùi Tín thì rõ ràng cuộc thảo luận đó không thành công, xét theo ý nghĩa đích thực của sự thảo luận. Tiếng thì thảo luận, nhưng trên thực tế lại được tổ chức theo lối một buổi thuyết trình, trong đó diễn giả trình bày đề tài và cử toạ chỉ có mỗi người vài phút để đặt câu hỏi. Tất nhiên đặt câu hỏi thì không phải là trao đổi ý kiến, không phải là thảo luận. Ở đây không hiểu vô tình hay cố ý người ta đã lẫn lộn giữa thuyết trình và thảo luận. Bởi nếu muốn thảo luận về một đề tài nào đó thì chí ít phải có từ hai diễn giả trở lên, trình bày hai hay nhiều quan điểm khác nhau về đề tài, để rồi từ trao đổi luận bàn với nhau, và cử toạ có thể nêu câu hỏi cho bất kỳ diễn giả nào mình muốn.

Mặt khác, hầu hết cự toạ đều đã lạc đề (digression), đã không hề đặt ra một câu hỏi nào đi đúng trọng tâm của đề tài đặt ra, và đã được diễn giả trình bày. Thay vì đặt câu hỏi thì hoặc là người ta nêu lên nhận xét hay bình phẩm nhân cách của diễn giả, hoặc là công kích hay buộc tội diễn giả, còn không thì đặt những câu hỏi mang tính hoài nghi quan điểm của diễn giả. Chưa kể có người chỉ đến và tìm cơ hội để la ó! Có thể nói đó không phải là cử toạ của một cuộc mạn đàm hay thảo luận, mà là những người tham dự một cuộc đấu tố cá nhân thì đúng hơn. Nó cũng cho thấy rằng dường như người Việt chúng ta chưa quen với tinh thần đối thoại của thảo luận, mà chỉ quen với tinh thần độc thoại, với việc chỉ muốn nghe những điều quen thuộc hoặc điều mình ưa thích thôi.

Tuy nhiên xét từ một góc độ khác thì có vẻ như Ban Tổ Chức và diễn giả đã đạt được một vài thành công. Về phía Ban Tổ Chức thì chí ít người ta cũng đã tạo được dịp để giới thiệu ông Bùi Tín với giới quan tâm trong cộng đồng ở San Jose. Ban Tổ Chức có lẽ cũng cảm thấy hài lòng vì có được dịp để chứng tỏ với nhiều người rằng họ đã không ủng hộ sai người.

Có thể nói người thành công hơn hết là ông Bùi Tín. Ông không thành công về việc trình bày đề tài đã được đưa ra, nhưng đã thành công trong việc chứng tỏ được con người thật của mình trước công chúng, trước những kẻ chống đối Ông, lẫn những người gặp và nghe Ông nói chuyện lần đầu.

Một cụ già đã ngoài 80 tuổi, tuy sức khỏe tỏ ra không được tốt nữa, đã đứng trình bày quan điểm của mình một cách rạch ròi, mạch lạc, ứng đối trôi chảy, tỏ ra hiểu biết rộng với một thái độ khoan hoà nhã nhặn ngay trước một cử toạ, mà phần đông tỏ ra thù địch, trong hàng giờ đồng hồ. Chưa kể, việc với tuổi tác như vậy, Ông đã lặn lội ngàn dặm, đến một nơi mà thù nhiều hơn bạn, để bàn luận quốc sự, chứng tỏ Ông là một người thật lòng nặng mối ưu tư về hiện tình Quê hương và đồng bào trong Nước. Một người ở tuổi ấy chắc chỉ làm như vậy vì một động cơ tinh thần, chứ không vì một danh lợi phù du nào khác? Tạm gác ra ngoài vấn đề lập trường hay giá trị của các quan điểm, một nhân cách như vậy không lẽ không đáng được tôn trọng sao?

Điểm đáng chú ý ở đây, là những người muốn mượn cuộc thảo luận để lên án và cáo buộc ông Bùi Tín, đã một cách vô tình giúp ông ta một dịp tốt để bào chữa thành công cho mình. Trước hết là vì sự cáo buộc, tuy hùng hồn trong cách diễn đạt, là quá yếu ớt, không được minh chứng vững vàng, và kém tính thuyết phục. Ông Bùi Tín đã dễ dàng để phản bác những lời buộc tội yếu ớt như vậy, và qua đó thanh minh cho mình. Có vẻ như người ta đã cho Ông cơ hội bằng vàng!

Mặt khác sự tương phản giữa phong cách của đôi bên cũng đã giúp, nhiều hơn là hại, ông Bùi Tín. Thái độ thù địch, ít nhiều kiêu căng và hơi hung hản của những người buộc tội đã khiến cho cung cách ôn nhu, hoà nhã của ông Bùi Tín trở nên nổi bật và có sức thu hút hơn. Có thể dự đoán mà không sợ sai là phần đông khán giả tại hải ngoại, và nhất là ở trong Nước, khi xem những video clips về cuộc thảo luận này, sẽ hoặc chí ít bớt ác cảm , hoặc nghiêng thiện cảm của mình về phía ông Bùi Tín, hơn là về phía những người chống Ông.
Sunnyvale, 6/27/2012

Trương Đ. Trung

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Trịnh Kim Tiến – Không cho biểu tình ngoài đường thì tôi biểu tình tại nhà

Sáng ngày 01/07, vừa đặt chân xuống xe taxi trước cổng nhà thờ Đức Bà, từ đằng sau hai người đàn ông lạ mặt tự xưng là an ninh mặc thường phục tiến đến, tóm lấy tay tay tôi yêu cầu tôi về đồn làm việc. Tôi không chấp nhận yêu cầu trên và yêu cầu họ xuất trình giấy tờ vì không có lý do gì để họ có quyền giữ tôi cả. Nhưng họ đã không chịu đưa giấy tờ ra và cứ nằng nặc ép tôi, kéo tôi, bắt tôi phải về đồn. Tôi đã phản đối kịch liệt vì hành vi của họ.

Ngay lập tức họ gọi rất nhiều công an, an ninh khác kéo đến, cả thường phục lẫn mặc sắc phục nói rằng nghi ngờ tôi tàng trữ hàng cấm. Tôi đề nghị họ lục soát tôi ngay tại đó theo đúng luật pháp nhưng đã không ai trong số họ dám làm điều đó vì thâm tâm họ cũng biết đó là một sự vu khống trắng trợn.

Sau đó tôi cùng gia đình bạn trai vào phía trong nhà thờ. Khoảng 8h30, chúng tôi ra khỏi nhà thờ. Hai người đó lại tiếp tục ra trước mặt và nói với tôi. “Đây là khu vực nhạy cảm, chị cần phải đi về ngay, chúng tôi sẽ cho chị đi taxi về, nếu không buộc chị phải theo chúng tôi vào trụ sở làm việc.” Tôi hỏi họ thế nào gọi là nhạy cảm thì họ không trả lời được, chỉ một mực ép tôi đi theo họ.

Trước hành động gàn dở của họ, chúng tôi đã đấu tranh kịch liệt. Sau đó, chúng tôi đi bộ về phía công viên 30-04 cho bọn trẻ nghỉ ngơi. Khi vừa qua đường, tại công viên, họ lại tiếp tục quấy nhiễu tôi. Một người mặc cảnh phục trắng cùng một cô gái mặc đồ thường đến gần nói với tôi, đề nghị tôi ra gặp một người nào đó mà tôi không biết là ai để nói chuyện. Tôi không đồng ý đi, vì không có lý do gì để tôi phải đi hết, tôi trả lời họ nếu người đó có chuyện cần nói thì có thể ra đó nói chuyện với tôi. Tôi cũng yêu cầu được biết tên tuổi của những người đang đề nghị tôi, nhưng họ không trả lời cho tôi biết. Ngay lúc đó có một ông cụ – một người dân tại khu vực – bức xúc trước những hành động bất chấp luật pháp của họ đã lên tiếng bênh vực, bảo vệ tôi. Ông khẳng định hành động của họ là sai hoàn toàn, là những người nắm trong tay luật pháp nhưng lại xử sự một cách lố bịch.

Chúng tôi hầu hết là phụ nữ và trẻ nhỏ, tại sao họ lại có những hành động thật mất lịch sự như vậy? Tôi chỉ là một cô gái 22 tuổi bình thường và yếu đuối, họ có cần phải hành xử như vậy chăng? Tuy không có rành nhiều về luật pháp nhưng tôi cũng có nắm được một số luật cơ bản, đâu phải các anh nắm quyền hành trong tay thì các anh có thể muốn làm gì thì làm, muốn bắt ai thì bắt được. Tôi là một công dân và tôi không làm gì vi phạm pháp luật, tôi sẽ bất hợp tác với những điều sai trái. Chúng tôi ngồi tại công viên đầy cây xanh mà không cảm nhận được không khí trong lành và thoáng đạt, bởi xung quanh đủ mọi loại máy quay, máy chụp hình, công an, an ninh chìm nổi dày đặc.

Khoảng 9h20, chúng tôi gọi xe taxi để đi thì có 2 người khác mặc thường phục nói vói tài xế xe là an ninh và cấm tài xế chở chúng tôi đi đường ngang qua khu vực Hai Bà Trưng và Nguyễn Đình Chiểu.

555240_128558407285133_1766291760_n.jpg

Không cho biểu tình ngoài đường thì tôi biểu tình ở nhà. Biểu tình để làm gì? Có rất nhiều người có thể thấy hành động biểu tình một mình tại nhà của tôi là kỳ cục nhưng tôi cho rằng biểu tình là một hành động khẳng định rõ rệt nhất quyền hợp pháp của một công dân. Biểu tình chống Trung Quốc là sự khẳng định chủ quyền của dân tộc. Vì vậy đối với tôi, cho dù biểu tình ở đâu, nhiều hay ít người không hề quan trọng mà điều quan trọng là mỗi người chúng ta đều có thể nói, có thể bày tỏ được thái độ, tâm tư tình cảm của mình vào trong đó. Bất cứ nơi nào trên đất nước này, chúng ta đều có thể đưa ra một thông điệp của bản thân với quê hương đất nước, nơi chôn rau cắt rốn, mình sinh ra và lớn lên.

Có gì mà khó khăn, có gì mà ngại ngùng khi anh nói anh yêu Nước, khi anh nói anh căm thù lũ cướp Nước của anh? Anh có bức xúc thì anh phải giải tỏa, tại sao anh phải chịu dồn nén, câm nín? Có thể người ta bảo tôi khùng, nhưng khùng mà tôi còn cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc hơn những kẻ tự cho mình là thông minh, tỉnh táo. Tại vì tôi dám yêu và dám nói, dù là một mình, dù trong nhà hay ngoài đường phố.

Tôi cảm nhận rằng mỗi cuộc biểu tình, mỗi người biểu tình chống Trung Quốc đều là một phát tát, tát mạnh vào mặt bọn bành trướng xâm lược Bắc Kinh. Dù cho đến khi đất nước này chỉ còn một người biểu tình, chỉ còn một người khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam thì nó sẽ không bao giờ là Tam Sa của Trung Quốc hết. Vì Hoàng -Trường Sa là của chúng tôi, và chúng tôi phải nói rõ với điều ấy cho cả thế giới này biết và nhất là lũ khát máu tham lam Trung Quốc.

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Filed under: Dân Luận

Thông Báo

Ngày 24/10/2010 Dân Luận bị tấn công từ chối dịch vụ (DoS) trở lại, chúng tôi buộc phải bật các cơ chế phòng thủ, khiến độc giả truy cập khó khăn hơn. Xin độc giả hãy gửi các thắc mắc và đóng góp bài vở tới địa chỉ của Ban Biên Tập tại Banbientap@danluan.org.

Chào bạn!

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.

Mến,
Ban Biên Tập Dân Luận

Bài cũ

Nhập vào đây địa chỉ email của bạn để nhận được thông báo bài mới từ blog của chúng tôi mỗi ngày!

Join 117 other followers

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 117 other followers